Vài nhận xét về “Hải Ngoại Tâm Thư Gửi Đồng Bào”


KBCHN: 2 ngày thứ Hai và thứ Ba 24 & 25/10/2011 đầy căng thẳng và bận rộn vì bài vở “nóng bỏng” cuả Việt Weekly. KBCHN phải tăng phái để bảo vệ Tu Chính Án số 1 trước âm mưu dẫn đắt cộng đồng Người Việt đi vào “chính nghĩa quốc gia” bằng cách đuổi ký giả ra khòi phòng họp vì bất đồng chính kiến cuả nhóm chú phỉnh quốc vương Bolsa, nay họ đã đi một bước “cao cấp” hơn là rỉ tai, khủng bố, hăm doạ khách hàng và cơ sở bạn hàng bán lẻ bởi những “vệ binh đỏ Bolsa” nhằm bóp chết tiếng nói cỉa những cơ quan truyền thông đi lề trái trong sinh hoạt cộng đồng ngay tại một đất nước dân chủ số một thế giới.

KNCHN đã tương đối có thì giờ rảnh rỗi và nhận được bài viết rất có giá trị để tham luận này. Kính mời quý độc giả và các bậc học giả vui lòng chia sẻ ý kiến và quan niệm. Xin dùng ngôn ngữ đứng đán và văn hoá dân tộc, tránh chỉ trích cà nhân bằng luận điệu xuyên tạc và biạ đặt nhất là những tin tức bá láp khi viết về trang chủ Nguyễn Phương Hùng trên một số diễn đàn “ngoại vi của mặt trợn Việt Tân”, bảo đảm bài viết của quý vị sẽ được đăng tải. Ý kiến và nhận định của tác giả khôn g hoàn toàn hoặc nhất thiết là quan điểm của nhóm chũ trương KBCHN. 

VÀI NHẬN XÉT VỀ “HẢI NGOẠI TÂM THƯ GỬI ĐỒNG BÀO”

CỦA ÔNG LÊ QUẾ LÂM

Nguyễn Mạnh Quang, USA

Tình cờ  chúng tôi bắt gặp  bản văn “Hải Ngoại Tâm Thư Gởi Đồng Bào” của tác giả Lê Quế Lâm ĐỀ NGÀY 11/10/2011 (xem tài liệu 1 đính kèm). Tò mò chúng tôi đọc coi xem  tác giả có chủ ý muốn nói cái gì.  Chúng tôi cố gắng đọc từ đầu đến cuối và có một vài nhận xét.

Vài Lời thưa trước:

 

Ai cũng biết rằng kiến thức của loài người quá nhiều, mênh mông như Thái Bình Dương, không có ai có thể biết hết được. Cũng vi thế mà tất cá các nhà làm chính sách giáo dục ở trên thế giới  đều phải  chia  kiến thức loài người ra làm nhiêu môn học khác nhau. Mỗi môn học lại được chia ra làm nhiều pham vị nhỏ hơn, rồi mỗi phạm vi nhỏ của một  môn  học lại được chia ra làm một số  phạm vi nhỏ hơn nũa.  Thí dụ như ngành y khoa, các ông bác sĩ chuyên môn về căn bệnh nào (tim, phổi, thận chẳng hạn), thì giỏi trị liệu về các chứng bệnh thuộc về ngành chuyên môn đó. Nếu loang quạng nhảy lọt sang loại bệnh khác (mắt, tai, mũi, họng hay tâm thần chảng hạn) thì rất có thể làm nguy hiểm đế sinh mạng của bệnh nhân. Sự kiện này có thể coi như là một quy luật.

Các ngành khác như kỹ sư, giáo dục, luật học, điện toán, khoa học thực nghiệm, toán học cũng thế. Tương tự như vậy, ngành sử học và chính trị cũng không thể đi ra ngoài quy luật này. Không thể đọc một vài cuốn sách và ngồi đấu láo với các ông chính khách phòng trà rồi múa bút nhả ngọc phun châu lên mặt dạy bảo những người đã dành cả  cuộc đời  học hỏi, tìm hiểu và thường trực đối đầu với những công việc trong lãnh vực chuyên môn của họ. Đó là sự thực, nhưng vẫn có những người không biết như vậy!

Điều đáng buồn là, tại  Việt Nam trong thời gian 1885-1954 và ở miền Nam trong những năm 1954-1975, chính sách giáo dục nằm trong tay Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ – Vatican. Trong thời gian này, chương trình học, nhất là môn sử thế giới và quốc sử nằm trong tay kiểm soát chặt chẽ của Vatican. Tình trạng này, khiến cho những người Việt Nam tiếp nhận sở học trong thời gian này không được học đầy đủ những bài  lịch sử thế giới và quốc sử  vì rằng các bài học về các môn học này đều phải trải qua giai đoạn sàng đi lọc lại  dưới con mắt cú vọ của Giáo Hội La Mã. (Xin đọc Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Westminster, CA: Văn Nghệ, 1986), tr. 99-101, và Nguyễn Hiến Lê, Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê (TP Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Văn Học 1993), 354-356.).

Link : http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Hi%E1%BA%BFn_L%C3%AA

Điểm đặc biệt hơn nữa là các ông con chiên người Việt không những chẳng hề theo học môn sử, không hề tìm  đọc các tài liệu lịch sử liên quan đến những bàn tay các ngoại cường can thiệp trắng trợn vào nội tình Việt Nam  trong mấy thế kỷ vừa qua, mà lại còn mang căn bệnh dị ứng đối với các tài liệu lịch sử nói về vai trò của Giáo Hội La Mã trong dòng lịch sử Việt Nam thời cận và hiện đại, dù là họ đã trở thành những người trí thức (1) có bằng tiến sĩ như các ông Lâm lễ Trinh, Tôn Thất Thiện, Nguyễn Phúc Liên, Nguyễn Học Tập, Dương Ngọc Dũng, Nguyễn Đình Thắng (bút hiệu Thiên Ý), Bác-sĩ Nguyễn Thị Thanh v.v…, (2) hành nghề luật sư , thẩm phám  như Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Kim Khánh, Nguyễn Cần  (tức Lữ Giiang, Tú Gàn), v.v… (3) KỸ sư  như Nguyễn Gia Kiểng,  (4) Linh-mục như Phan Phát Huồn, Bùi Đức Sinh, Vũ Đình Hoạt, và  (5) nhà giáo và văn sĩ như Nguyễn Ngọc Ngạn và các văn sĩ Văn Nghệ Tiền Phong.

Điều khôi hài là họ không biết rằng cái bản thân họ không những dốt  đặc cán mai về cả  lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại mà còn mang nặng căn bệnh cuồng tín với cái đầu thiển cận, dị ứng với tất cả các tài liệu lịch sử có liên hệ tới hay nói về những khu rừng những việc làm bất minh, bất chính, đại gian, đại ác chống lại nhân  loại trong gần hai ngàn năm qua, và đặc biệt là chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ hậu bán thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Cho nên mới ti toe, lanh chanh  nhẩy vào lãnh vực viết sử, muốn làm thầy đời chỉ dạy cho những người lão luyện kinh nghiệm đầy mình trong lãnh vực sử học và trên sân khấu chính trị như các nhà lãnh đạo và các viên chức cao cấp trong chính quyền Việt Nam hiện nay. Cũng vì thế màn mới có những chuyện sau đây:

12 chuyện sai trái:

1.- Muốn đưa Bảo Đại trở lại ngôi vua: Trong khi  từ thời Cách Mạng Pháp 1789, nhân dân khắp nơi trên thế giới đã đào sâu chôn chặt (1)  cái chủ thuyết thần quyền chỉ đạo thế quyền bằng cách ghi vào hiến pháp của nước họ điều khoản tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền  và (2) chế độ  quân chủ trung ương tập quyền phong kiến lỗi thời để thiết lập một thể chế chính trị dân chủ đem lại các quyền  tự do, bình đẳng (về chính trị và kinh tế)  và quyền làm người  (nhân quyền) cho tất cả mọi người dân trong mọi tầng lớp xã hội, THÌ ngày 28/12/1945, Tổng Giám Mục Antoni Drapier, Khâm Sứ Đại Diện Tòa Thánh Vatican tại Huế công khai đòi đưa ông vua đàng điếm (playboy) đã thoái vị lên thành lập chính quyền làm công cụ cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican trong mưu đồ đánh tan lực lượng kháng chiến của nhân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh và cụ Hồ Chí Minh để tái lập quyền lực cho cái liên minh xâm lược siêu đế quốc, siêu chuyên chính,  siêu thực dân, siêu phong kiến và siêu tôn giáo này tạo Việt Nam. Dưới đây là bản văn sử nói về  sự kiện này:

“28/12/1945: Huế:  Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại  diện Roma tuyên bố: Gia đình Bảo Đại là “gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tous les annamites), và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/ (1945) (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi come le chef regulier avant le mars; DOM [Aix], CP 125).

Drapier cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long lên kế vi, và Nam Phương là Giám Quốc [Phụ Chính].” Chính Đạo,Việt Nam Niên Biểu (Houston, TX: Văn Hóa 1996), tr. 295.

Gia đình Bảo Đại

Rõ ràng là Vatican (một thế lực siêu tôn giáo, siêu độc tài, siêu phong kiến), có chủ trương lôi kéo dân ta vào cái bè mà cùng chèo bơi ngược dòng lịch sử để sống lại cái thời Trung Cổ với tất cả quyền lực chính trị, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, văn học đều phải nằm trong tay kiểm soát của nhà thờ Ki-tô. Ấy thế mà những các nhà trí thức của những người tự nhận là người Việt Quốc Gia chân chính  chiến đấu cho chính nghĩa nghĩa quốc gia và các nhà trí thức thường cao rao là chiến đấu cho tự do dân chủ lại tích cực ủng hộ và đi theo họ.

Như vậy là thế nào? Có phải là quá dốt về lịch sử thế giới và chẳng hiểu gì về bước tiến hóa cúa nhân loại không?

2.- Chủ trương một quốc gia riêng biệt: Ai cũng biết rằng  từ ngàn xưa, bất kỳ dân tộc nào cũng  quyết tâm liều chết chiến đấu cho sự tồn vong của dân tộc và thống nhất đất nước NẾU chẳng may đất nước của họ bị qua  phân. Ấy thế mà các ông trí thức nửa mùa lại đứng hẳn về phía những con chiên vong bản,  nhắm mắt nghe theo theo lời của Vatican (được sự ủng hộ của Hoa Kỳ) quyết tâm phải biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia riêng biệt, tách rời khỏi tổ quốc Việt Nam. Như vậy có phải là vừa vong bản và  phản quốc, vừa ngu xuẩn không?

3.- Mất nước, phục quốc?: Việt Nam đã được  độc lập và đất nước đã được thống nhất, chính quyền  Việt Nam hiên nay là chính quyền hợp pháp và có chính nghĩa, đã được toàn thể nhân dân thế giới công nhận và có chỗ ngồi ngang hàng với các quốc gia khác trên thế giới ở trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, quốc kỳ Việt Nam đã và đang ngạo nghễ tung bay bên cạnh các  quốc kỳ của gần hai trăm quốc gia khác ở trước trụ sở tổ chức tế này tại New York. Ấy thế mà các nhà trí thức nửa mùa lại nhắm mắt nghe theo những người vong bản (đã mấy đời nối tiếp nhau đứng vào hàng ngũ quân cướp ngoại thù cấu kết với Vatican) lại nói rằng “mất nước” và hò hét “phục quốc”. Như vậy có phải là dốt nát và ngu xuẩn không?

 

4.- Các nhà trí thức dốt kiến thức lịch sử: Ông kỹ sư con chiên Nguyễn Gia Kiểng nói rằng:  “Đứng trên quan điểm dân tộc, nó là một sự ngu xuẩn tuyệt đối. Mỹ hoàn toàn không phải là một đế quốc thực dân, trái lại còn là một cường quốc chống chủ nghĩa thực dân. Từ ngày lập quốc họ chưa hề đánh chiếm để sáp nhập hay thống trị một nước nào.”  Nguyễn Gia Kiểng.“35 năm sau ngày 30-4-1975 Vài khẳng định cần thiết. ”Thông Luận Số 247. Ngày 9/5/2010. Nguồn: http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4804.

Như vậy, có phải là ông kỹ sư này quá dốt về lịch sử thế giới không? Link: http://www.sachhiem.us/l7900i-kh7858ng-2727882nh-c7910a-m7896t-con-c7914u.html

5.- Ông con chiên giáo sư kiêm nhà văn MC Nguyễn Ngọc Ngạn nói khơi khơi trong cuốn băng nhạc Paris By Night số 81 rằng: “Bắc Hàn không xâm lăng Nam Hàn”. Như vậy, có phải là ông nhà giáo kiêm nhà văn này quá dốt về lịch sử thế giới không?

 

6.- Ông Tiến-sĩ sử học Hoàng Ngọc Thành,  giáo-sư dạy môn sử tại Trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn  trong những năm 1970-1975 viết khơi khơi rằng:

a.-  “Phải chờ đến khi ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng năm 1954 mới giành lại được chủ quyền từ người Pháp tại vùng từ nam vĩ tuyến 17 từ Bến Hài theo sự phân chia của hiệp định Genève” Hoàng Ngọc Thành, Công Và Tội Của CT Hồ Chí Minh Và ĐCSVN. 1945-2006 (San Jose, CA: Nghĩa Phú, 2009), tr  411.

b.- “Ông Nguyễn Hải Thần lãnh tụ VNCAMĐMH tức Việt Cách theo quân đoàn 62 vào Lạng Sợn, còn các ông Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đi theo quân đoàn 93 Vân Nam. Theo bác-sĩ Nguyễn Tường Bách: “Giữa tháng Mười năm 1945, anh Vũ Hồng Khanh cùng một số cán bộ mới trở về Hà NộiSở dĩ chậm trễ là vì khi tới Lào Kay, anh em bị quân Trung Hoa nhận một số vàng hối lộ của Việt Minh làm khó dễ, bị trở ngại tới một tháng.” Trên đường đến Hà Nội, quân Tầu Tưởng hỗ trợ cho Việt Cách và Việt Quốc, nhất là Việt Quốc thiết lập chính quyền tại một số thị trấn làm căn cứ như Lào Kay, Yên Bái, Việt Trì và từ Vĩnh Yên đến Hà Giang.Hoàng Ngọc Thành, Sđdtr. 261-262.

c.- “Tín đồ Gia Tô (người Việt) cũng khao khát độc lập và sẵn lòng chiến đấu và hy sinh…” Hoàng Ngọc Thành, Sđdtr. 246.

Như vậy, có phải là ông giáo sư Tiến-sĩ sử Hoàng Ngọc Thành  dốt nát về lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại không. Có phải ông Thành thiếu hẳn tinh thần vô tư của người Viết sử không? Có phải là ông Thành lươn lẹo, bóp méo lịch sử không? Xin ông Thành nhớ cho rằng, “Gươm lịch sử không tha phường lươn lẹo”. Xin đọc loạt bài viết “Một Số Điều Gian Dối Trong Cuốn Công Và Tội Của CT Hồ Chí Minh VÀ ĐCSVN 1945-2006  Của Tác Giả Hoàng Ngọc Thành” do Nguyễn Mạnh Quang biên soạn. Loạt bài này có thể đọc online trên sachhiem.net và sachhiem.us http://sachhiem.net/NMQ/HGNGTH/NMQ00.php

7.- Bà Bác-sĩ Nguyễn Thị Thanh khởi xướng và vận động truy tố Giáo-sư Trần Chung Ngọc và anh em trong nhóm Giao Điểm ra trước pháp đình với lý do là  biên soạn và công bố nhiều tác phẩm nói về những khu rừng tội ác của Giáo Hội La Mã đã liên tục phỉnh gạt, lừa bịp và bạo hành chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm quân và chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Như vậy có phải  trình độ kiến thức tổng quát của Dr. Nguyễn Thị Thanh rất kém và bà ta  dốt về lịch sử thế giới không?

8.- Ông con chiên Nguyễn Hữu Luyện khởi xướng vụ kiên WJC ( nhưng chuốc lấy thất bại ê chề!) được các nhà trí thức Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm., Luật Sư Nguyễn Văn Chức và nhiều trí thức con chiên khác ký tên ủng hộ để trồi trở thành trò hề mua vui cho thiên hạ. Như vậy có phải là kiến thức tổng quát của ông Nguyễn Hữu Luyện và của các nhà trí thức ký tên ủng hộ ông rất kém không bằng tình độ của một em học sinh lớp 9 ở Hoa Kỳ không?

9.- Hầu hết những sách sử viết bởi những con chiên cuồng tín người Việt không dám nói đến người đại diện của của thế lực nào ở Huế vào ngày 28/12/1945  đã công khai đề nghị  đưa ông Bảo Đại lên thành lập chính quyền bù nhìn làm công cụ cho Liên Minh Pháp – Vatican  tiến hành cuộc chiến nhằm tái lập quyền lực ở Đông Dương trong cuộc chiến 1945-1954.

Như vậy có phải là họ đã thiên lệch và bưng bít lịch sử không? Hay là họ quá dốt về lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, cho nên mới không biết sự kiện lịch sử quan trọng này?

10.- Cố tình giấu nhẹm: Hầu hết các sách sử do các ông con chiên người Việt và những người hoài Ngô  biên soạn và phát hành đều không hề đả động gì đến bàn tay quậy phá của Giáo Hội La Mã trong dòng lịch sử Việt Nam thời cận và hiện đại.

Như vậy có phải là họ đã thiên lệch, cố tình giấu nhẹm những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong mấy thế  vừa qua không?

 

11.- Tôn vinh Ngô Đình Diệm: Hầu như tất cả  các tu sĩ và nhóm thiểu số con chiên người Việt bao gồm tất cả các ông trí thức hoài Ngô cầm bút đều cho rằng “ông Ngô Đình Điệm là một chí sĩ yêu nước,  một nhà ái quốc chân chính đã chết vì nước” bất kể là  nhân dân Việt Nam (ngoại trừ nhóm thiểu số con chiên người Việt) và nhân dân thế giới cũng như sách sử đều ghi nhận ông ta là ”một  tên bạo chúa, phản thần tam đại Việt gian”, và bất kể là họ (giới con chiên Việt) không thể nào phản biện được những sự kiện sách sử đã ghi nhận như vậy về ông Ngô Đình Diệm.

Như vậy có phải là họ thiên lệch, cố tình bóp méo lịch sử biến những tên Ca-tô Việt gian thành các nhà đại ái quốc đúng theo tài nghệ siêu việt tuyên truyền của Vatican không? Về tài nghệ siêu việt này của Vatican, học giả Ca-tô Phan Đình Diệm ghi nhận:

Hàng ngàn năm, để bưng bít và che giấu 7 chương tội đối ngoại và một chương đối nội là tám, nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội Roma phải nói là đã đạt đến chỗ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tich, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa… Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngoài nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây “vạn lý trường thành đức tin” và buông bức “màn sắt thần học” lên đầu đàn chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật, (Giáo Hội) đã biến “núi tội thành con chuột”, “kẻ cướp (thành) thày tu” và “quỷ satan thành (người) có diện mạo ông thánh.”  Phan Đình Diệm. Mea Culpa Bài 3 – Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm.”  http://www.kitohoc.com/bai/net066.html

  Ngày 19/9.2000.

12.- Và hôm nay chúng ta  lại có chuyện “Hải Ngoại Tâm Thư Gửi Đồng Bào” của ông Lê Quế Lâm.

Trân trọng xin độc giả theo dõi những lời nhận xét dưới đây của chúng tôi về cái “Hải Ngoại Tâm Thư” này.

Nguyễn Mạnh Quang

Trong “ Hải ngoại tâm thư gởi đồng bào – Lê Quế Lâm”

1.- Ông Lê Quế Lâm viết: “Ngày 30/4/1975, binh sĩ Miền Nam buông súng để chấm dứt chiến tranh, đất nước thống nhất…

NMQ NHẬN XÉT:  “Sai: Nói rằng binh sĩ miền Nam buông súng là không đúng: Phải nói là rã ngũ tan hàng thì mới đúng: rõ ràng làTướng đầu cuốn gói ba quân ngỡ ngàng, Triệu quân rã ngũ tan hàng).

2.- Ông Lê Quế Lâm viết: “Khoảng ngăn cách mở rộng, từ sông Bến Hải nhỏ hẹp trở thành bao la như đại dương.”

NMQ NHẬN XÉT: Dân tộc không chia ly, chỉ có một thiểu số trong chế độ cũ ở miền Nam bỏ nước ra đi, vì lý do này nọ, khoảng ngăn cách chỉ còn sót lại trong đám người muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng.

3.- Ông Lê Quế Lâm viết: “Nhắc lại 10 năm đầu đất nước thống nhất, vô tình nhắc lại ký ức đau buồn của dân tộc. Lúc đó đồng bào phải ăn độn bo bo, dù Miền Nam từng là vựa lớn nhất nhì thế giới. Mọi nhu yếu phẩm ngày càng suy cạn, kinh tế xuống dốc trầm trọng.”

NMQ NHẬN XÉT: Đừng quên hoàn cảnh kiệt quệ của đất nước vì phải dồn hết tài lực trong hai cuộc chiến chống ngoại xâm, và tiếp đến là cuộc cấm vận 19 năm của Mỹ.  Cũng đừng quên miền Nam là vựa lúa lớn nhưng trong cuộc chiến, miền Nam phải ăn gạo viện trợ của Mỹ nhập cảng từ Thái Lan.

 4.- Ông Lê Quế Lâm viết:  Trong hoàn cảnh bi đát đó, Nhà nước chủ trương đổi mới để sống còn. Đồng bào cũng phải tìm mọi cách để vượt qua cảnh khổ.

NMQ NHẬN XÉT:  Đây là một điểm son cho Nhà Nước, và ngày nay nước nhà ra sao.

 5.- Ông Lê Quế Lâm viết: “Cả hai siêu cường đều tận tình yểm trợ cho hai đồng minh của mình là Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản Hà Nội. Vì thế cả hai bên VN vô tình trở thành con cờ của ngoại bang, họ sẵn sàng thí bỏ nếu thấy có lợi cho họ.”

NMQ NHẬN XÉT: Miền Bắc tự lập cánh sinh, tự họ gây nên thế lực, không trông cậy vào thế lực ngoại cường nào. Cho tới khi có thế lực và có chính nghĩa rồi họ mới nhân danh  chính quyền và nhân dân Việt Nam cầu viện  các nước bạn đồng minh giúp đỡ và viện trơ để chống lại liên minh các đế quốc thực dân xâm lược Vatican – Pháp – Mỹ, trong khi đó thì Việt Nam  Cộng Hòa hay miền Nam Việt Nam là do Mỹ và Vatican tạo ra, rồi đưa người của họ về cầm quyền làm tay sai cho họ.

6- Ông Lê Quế Lâm viết: “Bài học đầu tiên mà những người Cộng sản chiến thắng rao giảng là “Đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất của nhân dân toàn thế giới” và “Ngụy quyền (MN) là tay sai đắc lực của Đế quốc Mỹ”.

NMQ NHẬN XÉT: Bài học này không sai nếu chúng ta đọc Noam Chomsky và các tài liệu về sự can thiệp bằng bom đạn của Mỹ khắp nơi trên thế giới, điển hình là gần đây ở Iraq, Afghanistan, Syria, Libya v…v….. và chính quyền miền Nam đúng là tay sai (client state) của Mỹ.

7.- Ông Lê Quế Lâm viết: Tai tôi nghe thuyết giảng nhưng trong đầu óc cứ suy nghĩ: CSVN xuất phát từ Liên Xô, được khối CS tận tình chi viện để chiếm MN, đưa cả nước vào quĩ đạo Liên Xô. CSVN đích thị cũng là tay sai của LX. Chủ nghĩa CS có phải là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với những người yêu chuộng tự do trên thế giới hay không?

NMQ NHẬN XÉT: Sai: Đoạn văn này  có dã tâm vu khống, đem cái bản chất làm  tay sai cho ngoại xâm Mỹ và Vatican của chính quyền miền Nam chụp lên đầu chính quyền miền Bắc.  Hãy so sánh mức độ chi viện của Mỹ cho miền Nam và của khối CS cho miền Bắc: Viện trợ của Nga Sô Viết và Trung Cộng cho Bắc Việt ước tính khoảng 3 tỷ Mỹ Kim. Mỹ đã tiêu ở Việt Nam khoảng 300 tỷ Mỹ Kim (viện trợ và quân phí).

8.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Điều đau buồn, tôi đang sống ở phương Nam Tổ quốc, nay do cơ trời xui khiến có mặt tại Phú Thọ (Vĩnh Phú), nơi các vua Hùng dựng nước. Quốc tổ sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy đám hậu duệ, sau gần 5000 năm oai hùng, nay trở thành những kẻ vong thân, vong bản, cúi đầu làm tay sai cho ngoại bang, chia rẻ dân tộc!!!

NMQ NHẬN XÉT: (Rõ ràng là lấy mũ Quốc Gia và Công giáo chụp lên đầu Cộng sản.)

9.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Nổi trăn trở khiến tôi quyết định phải viết một quyển sách về chiến tranh VN. Chỉ có những người lãnh đạo mới làm tay sai cho ngoại bang, phản bội dân tộc..”

NMQ NHẬN XÉT: Sai. ai chỉ đạo và lãnh đạo cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lăng vào năm tháng 2/1979? NẾU những người lãnh đạo chính quyền Việt Nam làm tay sai cho Trung Cộng, THÌ ai là người lãnh đạo cuộc chiến chống Trung Cộng  trong những hơn 6 tuần lễ từ 17/2/1979  -18/3/1979 khiến cho 600 ngàn quân xâm lược Trung Quốc phải bị thảm bại và rút quân về nước?  Mặt khác, lịch sử đã chứng minh rằng, Công giáo, như là một tôn giáo, chứ không phải là giới lãnh đạo, đã làm tay sai cho thực dân Pháp, phản bội dân tộc.

10.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Qua lời tự giới thiệu, Hải ngoại tâm thư gởi đồng bào không xuất phát từ một thế lực thù địch nào cả, mà chỉ theo gương người xưa. Hơn một thế kỷ trước, đã có một lá thư từ hải ngoại gởi về. Đó là Hải Ngoại Huyết Thư của cụPhan Bội Châu gởi từ Nhật Bổn. Cụ đã nhờ cụ Phan Chu Trinh mang về nước. Ngày nay, Hải ngoại Tâm thư cũng chỉ vì lợi ích tối thượng của đất nước, vì tiền đồ dân tộc như chúng tôi đã thành tâm khấn nguyện với Quốc Tổ và các bậc tiền hiền đã dầy công dựng nước, mở rộng giang sơn, bảo vệ Tổ quốc.”

NMQ NHẬN XÉT: Hợm hĩnh, hỗn xược, một kẻ tự thú đã làm tay sai cho quân xâm lăng Mỹ: “Tôi được phân công làm công tác nghiên cứu về chiến tranh VN tại một cơ quan do Hoa Kỳ thiết lập.” mà dám tự ví mình với nhà đại ái quốc Phan Bội Châu! Rõ thật nỡm!

11.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Trước quốc nạn của dân tộc, giới nhân sĩ trí thức trong nước đã kiến nghị giới lãnh đạo Đảng CSVN công khai hóa thực trạng quan hệ Việt-Trung,…”

NMQ NHẬN XÉT: Trong lãnh vực chính trị quốc tế, không có nước nào công khai hóa thực trạng quan hệ của nước mình với nước khác.

 12.- Ông Lê Quế Lâm viết: ”Nếu ly hương là một quyết định khó khăn…thì sự hồi hương cũng không phải là một sự chọn lựa dễ dàng. Nhưng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng điện tử hiện thời, dù xa quê hương, ta vẫn có thể tham gia tích cực mọi sinh hoạt ở quốc nội. Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thu hẹp khoảng cách không gian và thời gian. Những việc xảy ra ở trong nước, chúng ta có thể biết rõ trong vài giờ sau, có khi biết tức thì. Do đó nếu cần ta có thể tham gia tích cực. Điều kiện tất yếu là phải quan tâm, phải tha thiết với dân tộc”.

NMQ NHẬN XÉT: Vấn đề là phải biết rõ toàn bộ thực trạng của đất nước chứ không chỉ qua vài mẩu thông tin vụn vặt trên Internet.

13.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Chúng tôi, những đứa con Việt Nam phải rời bỏ quê hương vì không chấp nhận chế độ CS. Đảng CSVN đã đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi dân tộc, mà quyền lợi của Đảng CSVN gắn liền với quyền lợi của Liên Xô lúc trước và Trung Quốc ngày nay. Vì thế không thể có đối thoại. Vả lại, Dân chủ tự do thì làm sao nói chuyện được với Độc tài chuyên chính. Những nguyện vọng cùng những thao thức của chúng tôi xin được gởi đến đồng bào trong nước. Chính đồng bào sẽ là nhân tố quyết định hướng tiến lên của dân tộc để sánh bước cùng năm châu bốn bể.”

 

NMQ NHẬN XÉT:  Sai,  chủ quan, vu khống, gán cho các nhà lãnh đạo chính quyền Việt Nam hiện nay những tội danh mà chính những người được Vatican và Mỹ đưa lên cầm quyền ở miền Nam đã từng làm.  Mỹ và các nước Âu Châu dân chủ tự do nhưng vẫn phải nói chuyện với Nga, Tàu, Việt Nam, Cuba, và cả Bắc Hàn nữa, khoan kể đến Saudi Arabia và các nước Hồi Giáo. Ông có tin rằng đồng bào trong nước sẽ tiếp nhận những thao thức một chiều và hiểu biết kém cỏi về lịch sử của ông không?

14.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Đồng bào quốc nội lại không có quyền tự do bày tỏ chính kiến và nguyện vọng của mình. Người dân thể hiện lòng yêu nước, xuống đường biểu tình phản đối TQ cũng bị ngăn cấm, đàn áp.”

 

NMQ NHẬN XÉTDốt về chính trị và nghệ thuật đối đầu với các thế lực ngoại thù, không hiểu gì về những âm mưu của Vatican đang lợi dụng và khai thác tình hình Việt Nam hiện nay để gây bạo loạn, cho nên mới không biết rằng chính quyền Việt Nam (sau khi cho phép nhân dân biểu tình tới 10 lần để tỏ rõ lập trường với Trung Quốc) phải kiểm soát chặt chẽ những cuộc biểu tình để đề phòng những phần tử phá hoại (có thể do Vatican chủ mưu và xúi giục) gây bạo loạn, gây thiệt hại về sinh mạng và tài sản của Trung Quốc khiến cho Trung Quốc có cớ xua quân tấn công Việt Nam. Kém thông minh vừa thôi chứ, học giả gì mà kém thông minh như vậy!

15.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Đã đến lúc đồng bào trong và ngoài nước cùng gióng lên tiếng nói chung, bày tỏ nguyện vọng thiết tha của dân tộc. Nhưng ai sẽ lắng nghe tiếng nói của chúng ta? Đây là nguyện vọng chính đáng của toàn dân, nếu những người lãnh đạo không chịu lắng nghe, đồng bào sẽ có trách nhiệm cứu nước. Các cường lực quốc tế đang hiện diện ở Biển Đông sẽ quan tâm, nếu họ nhận thấy nguyện vọng của dân tộc ta phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. “

NMQ NHẬN XÉT:  Đồng ý là phải lắng tai nghe, nhưng không thể  mắc bẫy, nhất là cái bẫy của Vatican!

Khát vọng độc lập của dân tộc và tham vọng thống trị của TQ

 

16.- Ông Lê Quế Lâm viết:”Biển Đông là thế phát triển của đất nước, nhưng TQ tuyên bố vùng biển này thuộc chủ quyền của họ. Thế sống còn của đất nước phải tùy thuộc toàn diện vào TQ, qua khẩu hiệu “16 chữ” mà giới lãnh đạo hai nước đã đồng thuận: “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng về tương lai”.  Đây là đại họa của dân tộc.”

NMQ NHẬN XÉT: Nếu lãnh đạo hai nước đã đồng thuận như trên thì đâu là đại họa của dân tộc?

Ý Dân là Ý Trời

 

 17.- Ông Lê Quế Lâm viết:”Xưa nay mọi người đều tin tưởng như vậy, và khát vọng độc lập tự chủ, thoát khỏi ảnh hưởng TQ của dân tộc ta đã phù hợp với ý trời. Nhìn lại lịch sử trong hơn một thế kỷ qua, chúng ta sẽ thấy đất nước luôn được thế Thiên Thời để đẩy lùi ảnh hưởng TQ. Năm Quý Mùi 1883 khi thực dân Pháp đặt ách bảo hộ ở Bắc Kỳ, triều đình Mãn Thanh đưa quân sang VN phối họp với giặc Cờ Đen và quân triều đình Huế đánh phá quân Pháp. Sự can thiệp của Tàu bị Pháp dẹp tan, đưa đến Hiệp ước ký tại Thiên Tân ngày 11/5/1884 giữa Francois Fournier và Lý Hồng Chương: Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ. Tiếp theo là Hòa ước Giáp Thân ký ngày 6/6/1984 giữa Patenôtre, Đặc sứ Toàn quyền Pháp ở Trung Hoa và Lý Hồng Chương: xác nhận VN đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Ảnh hưởng phong kiến TH hoàn toàn chấm dứt ở VN. Chiếc ấn An Nam Quốc Vương của vua Càn Long gởi vua Gia Long năm 1803 đã bị hủy bỏ. VN sẽ độc lập hoàn toàn khi chủ nghĩa thực dân cáo chung.”

NMQ NHẬN XÉT: Sao ông Lâm không đặt ra vấn đề: “Ai liên kết với Pháp đánh chiếm Việt Nam”?  Ông sẽ thấy câu trả lời là “ Vatican và tín đồ Ca-tô bản địa Việt Nam.” Sao ông Lê Quế Lâm không nói ra sự thực ô nhục này?

18.- Ông Lê Quế Lâm viết:”Chính phủ Liên hiệp ra đời ngày 1/1/1946.”

NMQ NHẬN XÉT:  Sai:  Theo Cụ Đoàn Thêm thì Chính Phủ Liên Hiệp được thành lập và trình diện vào ngày 2/3/1946 (Đoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua 1945-1965: Việc Từng Ngày (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, Không đề năm xuất bản), trang 20. Theo ông Hoàng Cơ Thụy thi chính phủ này được thành lập vào ngày 24/2/1946, (Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận  – Cuốn 4 (Paris: Nhà Sách Nam Á, 2002), tr. 2070. chứ không phải là ngày 1/1/1946.   Xin đừng nói ẩu!

19.- Ông Lê Quế Lâm viết: “ Hai tháng sau, Jacques Meyrier -Đại sứ Pháp và Ngoại trưởng Trung Hoa Wang Shih Chieh ký Hiệp ước Trùng Khánh 28/2/1946: Pháp giao hoàn cho TH các lãnh thổ mà triều đình nhà Thanh đã nhường cho Pháp hồi thế kỷ trước như Thiên Tân, Hán Khẩu, Thượng Hải, Quảng Đông…. Đổi lại, quân Pháp sẽ thay quân TH ở bắc vĩ tuyến 16. Đầu tháng 3/1946, đại diện Pháp là Sainteny đến Hà Nội thảo luận việc thay quân TH và tương lai chính trị VN. Hai bên đã ký Thỏa ước 6/3/1946: Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Hai bên cam kết tiếp tục đàm phán để đi đến một hiệp ước chính thức trong vòng 5 năm. Việt Nam sẽ độc lập hoàn toàn cùng thời với Ấn Độ và Nam Dương vào cuối thập niên 1940.”


Tướng Leclerc, Hồ chí Minh, Jean Sainteny

NMQ NHẬN XÉT: Sao ông Lê Quế Lâm không nói rõ là Thỏa Hiệp này có nói Pháp chỉ được phép gửi ra miền Bắc vĩ tuyên 16 có 15 ngàn quân mà thôi!” Thỏa ước trên chỉ là một bước đi chính trị của Pháp để tái lập nền đô hộ Việt Nam.  Ngày 14 tháng 8, 1945, Tổng Thống Pháp De Gaulle đã bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để “cắm lại lá cờ tam tài của chúng ta ở đó” (y replanter notre drapeau).  Và Mỹ đã giúp hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này. Mục đích của Pháp và Mỹ không liên quan gì đến chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô.  Năm 1949 Mao Trạch Đông mới công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Và năm 1950 Liên Xô cũng mới công nhận Việt Nam.  Ông Hồ đã nhìn xa, cho Pháp vào để đuổi bọn Tàu ô của Tưởng Giới Thạch về Tàu!

Thierry d’Argenlieu

Đại họa mất nước của dân tộc xuất phát từ đâu?

20.- Ông Lê Quế Lâm viết: “ Ông Hồ Chí Minh không muốn VN được độc lập bằng con đường thương lượng hòa bình, vì lẽ ông là Ủy viên Quốc tế CS. Stalin chủ trương các nước thuộc địa phải chiến đấu chống thực dân đế quốc để giành độc lập, nghĩa là phải tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Vì thế, 9 tháng sau, ông HCM phát động “Toàn quốc kháng chiến”.

NMQ NHẬN XÉT: Sai: Sư thực  là  Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican chủ tâm gây hấn khiến cho chiến tranh bùng nổ. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày đày đủ trong Chương 46, Phần V, sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tộ Ác Của Giáo Hội La Mã. Dưới đây là nguyên văn chương sách này như sau:

CHƯƠNG 46

(Nguyễn Mạnh Quang)

 

LIÊN QUÂN PHÁP – VATICAN GÂY HẤN Ở BẮC BỘ

VÀ CHIẾN TRANH BÙNG NỔ TRÊN TOÀN QUỐC

 

Ngay khi vừa tiến ra Bắc, quân Pháp liền chuẩn bị để gây hấn, uy hiếp chính quyền và quân đội kháng chiến Việt Nam. Bỏ ra ngoài những hành động lẻ tẻ của những quân lính Pháp ức chế nhân dân ở các vùng kế cận chúng trú đóng, người viết chỉ ghi lại những hành động cố tình gây hấn của chúng đã dẫn đến biến cố 19/12/1946 mà thôi.

 

Hành động gây hấn quan trọng của quân lính Pháp đưa đến biến cố bùng nổ chiến tranh trên toàn lãnh thổ Việt Nam là chuyện xẩy ra vào sáng sớm ngày 20/11/1946[i]. Lúc đó, một chiếc tầu tuần duyên của Pháp bắt giữ một thương thuyền Trung Hoa chở hàng hóa tiến vào thương cảng Hải Phòng. Lính Tự Vệ Việt Nam can thiệp và bắt giữ ba nhân viên thủy thủ đoàn của chiếc tầu tuần duyên Pháp. Đồng thời, quân Pháp đồn trú ở trên bộ cũng có những hành động ngang tàng hống hách, hà hiếp nhân dân trong các khu phố gần bên và khiêu khích quân Tự Vệ gần đó khiến cho hai bên cùng nổ súng. Trong cuộc nổ súng này, quân Tự Vệ bắt được (thêm) ba lính Pháp. Đại Tá Debès chỉ huy đạo quân Pháp trú đóng tại Hải Phòng được lệnh dùng vũ lực tấn công đồn Tự Vệ để giải thóat cả sáu lính Pháp đang bị giam giữ ở trong đó. Quân Tự Vệ Việt Nam cương quyết tử thủ giữ đồn.

 

Tại Hà Nội, khi được tin này, đại diện Pháp là ông M. R. Lacharrière thỏa thuận với ông Hồ Chí Minh rằng hai bên phải cử phái đoàn gặp nhau ngay tức khắc để giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Hai phái đoàn này đã đạt được một thỏa hiệp ngưng bắn. Sự rắc rối tưởng như đã được giải quyết. Thế nhưng, ngay khi đó, Đại Tá Debès lại nhận được lệnh của Tướng Valluy, (Link:http://en.wikipedia.org/wiki/Jean-%C3%89tienne_Valluy )  Tổng Tư Lênh Đoàn Quân Viễn Chinh Pháp ở Sàigòn và nắm quyền Ủy Nhiệm Cao Ủy Đông Dương d’ Argenlieu (lúc bấy giờ không có mặt ở Saigon), phải lợi dụng dịp này để gửi tối hậu thư cho chính phủ Việt Nam buộc phải di tản, rút ra khỏi thành phố Hải Phòng. Ngày 22/11/1946, Tướng Valluy lại gửi thêm cho Đại Tá Debès một bức điện tín khác nói rằng cứ việc tự tiện hành động không cần phải có lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp của Tướng Morllière (Tư Lệnh Quân Đội Pháp ở Bắc Việt).

 

Ngày 23/11/1946, Đại Tá Debès chuyển tối hậu thư của Tướng Valluy từ Sàigòn (Tổng Tư Lệnh Đoàn Quân Viên Chinh) cho chính quyền Việt Nam tại Hải Phòng đòi chính quyền của ta phải cấp tốc đi ra khỏi thành phố Hải Phòng trong vòng hai (2) tiếng đồng hồ. Chính quyền Việt Nam tại Hải Phòng từ chối, lấy lý do là còn chờ nhận được lệnh từ chính quyền trung ương ở Hà Nội. Đại Tá Debès gia hạn thêm 45 phút nữa. Phía Việt Nam vẫn giữ vững lập trường và chuẩn bị đối phó.

 

Đúng hạn kỳ, máy bay khu trực và oanh tạc cơ Pháp tung hoành trên không phận yểm trợ cho các đoàn thiết giáp và bộ binh tiến chiếm các khu phố, tấn công các trụ sở chính quyền Việt  Nam. Quân Tự Vệ Việt Nam chỉ có súng trường Mousqueton, mã tấu và lựu đạn quyết tâm liều chết bảo vệ Hải Phòng.

 

Hải Phòng chìm ngập trong những cơn mưa hải pháo của địch quân. Các khu phố trở thành hỗn loạn, nhà cửa tan hoang, xác người trần ngập đó đây. Trận đánh kéo dài tới ngày 28/11/1946, quân Tự Vệ và chính quyền Việt Nam phải rút lui ra khỏi thành phố, người người lũ lượt chạy trốn Hải Phòng, băng qua Cầu Niệm, theo Đường Số 10 tràn sang Kiến An, tiến qua An Lão, Tiên Lãng, rồi từ đó, hoặc là đi về Tư Kỳ tràn xuống Ninh Giang, hoặc là tiến sang Vĩnh Bảo  rồi đến Thái Bình để lánh nạn. Con số nạn nhân bị chết vì bom đạn vô tội vạ và quân dân hy sinh liều chết bảo vệ Hải Phòng lên tới nhiều ngàn người. Phía quân Pháp công bố con số tử vong của phía Việt Nam không qúa 6 ngàn (no more than 6,000 killed), trong khi đó thì phía chính quyền Việt Nam công bố con số thương vong lên tới gần 20 ngàn.[ii]

 

Tin chiến sự lan ra toàn quốc. Cụ Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân hãy bình tĩnh. Trong khi đó thì Tướng Võ Nguyên Gíáp yêu cầu được gặp Tướng Molìère (Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Bắc Việt) vào ngày 27/11/1946 để bàn luận tìm ra một phương cách làm cho tình hình bớt căng thẳng. Nhưng mãi tới ngày 29/11 Tướng Molìere mới chịu gặp Tướng Giáp. Khi nói chuyện, Tướng Molière nói thẳng cho Tướng Giáp biết rằng lập trường của Pháp là Pháp phải kiểm soát Hải Phòng cùng các vùng phụ cận và quốc lộ só 5 (nối liên Hà Nội với Hải Phòng) cũng như tất cả các thông lộ nối liền với các đồn trú quân của Pháp. Nếu chính phủ Việt Nam không chấp nhận những điều kiện này thì không có bàn thảo gì hết.

 

Đòi hỏi quá đáng trên đây của Pháp khíến cho chính quyền Việt Nam không còn hy vọng gì thương thuyết được với người Pháp và phải chuẩn bị chiến tranh. Tất các cơ quan chính quyền Việt Nam chuẩn bị rút lui ra khỏi thủ đô Hà Nội để chờ giờ hành động.

 

Jean Sainteny và Hồ chí Minh

 

Tuy nhiên, ngày 2/12/1946, Pháp cử ông Sainteny ( Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Jean_Sainteny ) đến Hà Nội gặp Cụ Hồ Chí Minh để bàn chuyện hoà bình. Nhân cơ hội này, Cụ Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân Pháp và Quốc Hội Pháp hãy can thiệp chống lại những hành động hiếu chiến và gây hấn của Đoàn Quân Viễn Chinh Pháp ở Đông Dương. Ngày 18/12/1946 chính phủ Pháp cử ông Marius Moutet, Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải  Ngoại, đến Sàigon để cố gắng tìm cách thương thuyết hòa bình với chính phủ Việt Nam.

 

Tuy nhiên, lúc đó đã quá muộn. Cả Pháp và Việt Nam đều đã chuẩn bị chiến tranh và phải quyết chiến để giành thắng lợi. Trước đó một ngày, ngày 17/12/1946, Tướng Valluy (Tổng Tư Lệnh  Đoàn Quân Viễn Chinh) bất ngờ đến Hải Phòng ra lệnh cho vị sĩ quan chỉ huy quân lính tại đây phải chuẩn bị hành động.

 

Cùng ngày hôm đó, quân Tự Vệ Việt Nam ở Hà Nôi tấn công một quân xa của Pháp, nhiều lính Pháp thiệt mạng. Quân Pháp được lệnh tiêu diệt các đồn quân Tự Vệ và đốt phá các khu phố lân cận khiến cho 15 thường dân bị thiệt mạng. Phái đoàn Sainteny đòi chính phủ Việt Nam phải phá bỏ hết tất cả các công sự chiến đấu trong thành phố. Đồng thời, quân Pháp tấn công Bộ Tài Chánh và  Bộ Giao Thông, lấy cớ rằng có súng bắn từ các cơ sở này. Cuối cùng, sáng ngày 19/12/1946, Tướng Molière (Tư lệnh Quân Đội Pháp ở Bắc Việt) đòi giải giới quân Tự Vệ Việt Nam và vấn đề an ninh trong thủ đô Hà Nội phải do quân đội Pháp đảm nhận.

 

Chính phủ Việt Nam coi đòi hỏi trên đây của Tướng Molière như là tối hậu thư bắt Việt Nam phải đầu hàng. Cụ Hồ Chí Minh tìm cách tiếp xúc với ông Sainteny để cứu vãn tình thế. Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Hoàng Minh Giám yêu cầu được gặp Tướng Molière, nhưng bị từ chối. Đồng thời, Tướng Giáp cũng kêu gọi Tướng Valluy hủy bỏ đòi hỏi trên đây.

 

Tất cả đều vô vọng. 6 giờ chiều hôm đó, quân Pháp được báo cáo cho biết phía Việt Nam đã sẵn sàng trong tư thế tấn công. 8 giờ tối hôm đó, Hà Nội chìm trong bóng tối vi các nhà máy điện đã bị phá hoại và lệnh tấn công nhắm vào các đồn binh Pháp ở Hà Nội được ban hành. Đêm hôm ấy, Hà Nôi vang rền tiếng súng và tiếng hô xung phong giết giặc của Trung Đoàn Bảo Vệ Thủ Đô dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Vương Thừa Vũ. Nhân dân Hà Nội lếch thếch bồng bế nhau trốn ra các làng thôn kế cận ngọai ô, rồi lần lần xa dần Hà Nội, dấn thân theo cuộc chiến cùng chìm nổi với quê hương. Nói về những ngày lịch sử trọng đại này, sách Lịch sử lớp 12 viết:

 

Trong hành động xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta chỉ có một con đường: cầm vũ khí kháng chiến để bảo vệ độc lập, tự do. Ngày 18 và 19/12/1946, hội nghị Ban Thường Vụ Trung Ương Đảng quyết định phải phát động toàn quốc kháng chiến và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài để chỉ đạo cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Ngay trong đêm 19/12/1946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến. Sáng ngày 20/12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được truyền đi khắp đất nước: Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

 

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, là mệnh lệnh cách mạng tiến công, giục giã và soi đường, chỉ lối cho mọi người Việt Nam đứng dậy cứu nước.”

 

Khoảng 20 giờ ngày 19/12/, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy. Cả thành phố Hà Nội tắt điện. Đó là hiệu lệnh chiến đấu trong toàn thành…”[iii]

Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh (1942).

Kể từ đây, toàn dân hăng say quyết tâm dồn hết nỗ lực vào việc phục vụ cho kháng chiến. Cuộc kháng chiến này của dân tộc ta quả thật là cực kỳ khó khăn và vô cùng gian khổ nhưng cũng hết sức hào hùng.

21.- Ông Lê Quế Lâm viết: “ Những người Quốc gia ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại đứng ra thương lượng hòa bình với Pháp. Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã cùng Cựu hoàng Bảo Đại ký Hiệp ước Elysée 8/3/1949: Pháp thừa nhận VN độc lập và thống nhất.”

NMQ NHẬN XÉT: Nói láo!  Sự thực là Vatican đưa Bảo Đại lên thành lâp chính phủ  để làm tay sai cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican trong mưu đồ tái chiếm Đông Dương. Bằng cớ là:

“Ngày 28/12/1945: HUẾ: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố: “Gia đình Bảo Đại là gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tous les annamites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars; DOM [aix], CP 125). DRAPIER cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long kế vị, và Nam Phương làm Giám Quốc [Phụ Chính]. “Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 (Tập A: 1939-1946) (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr 295.

 Chuyện Hiệp Ước Elysée 8/3/1949 chỉ là trò hề để phỉnh gạt, bịp bợm nhân dân Việt Nam và dư luận quốc tế mà thôi. NẾU Hiệp Ước Elysée 8/3/1949  không phải là trò hề bịp bợm, THÌ tại sao, sau đó Mỹ làm áp lực với Pháp,  Pháp mới chịu ký Thỏa Hiệp 4/6/1954 trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại?. Hiệp Ước này được sách Vietnam : A History In Documents (New York: The New Americsan Library, Inc., 1981), nói rõ với tựa đề là  Treaty Of Independence Of The States Of Vietnam, June 4, 1954, nơi các trang 150-151.

22.- Ông Lê Quế Lâm viết: Sáu tháng sau, Mao Trạch Đông chiến thắng ở Hoa Lục (1/10/1949). Ông HCM đến Bắc Kinh cầu viện CS Tàu để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuộc chiến xảy ra cùng lúc với chiến tranh lạnh giữa HK và LX. Hậu quả là đất nước bị chia đôi hồi tháng 7/1954.” 

NMQ NHẬN XÉT:  Nói láo và vu khống!  Liên Minh Xâm Lược Pháp- Vatican đem binh hùng tướng giỏi với (1) những binh đoàn thiện chiến chuyên nghiệp, (2) những vũ khi hiện đại và tiền bạc viện trợ vô cùng hào phóng của Hoa Kỳ, (3) Hai triệu tín đồ Ca-tô làm nội gián tiếp tay cho giặc, cùng với băng đảng phong kiến phản động của triều đình nhà Nguyễn và bọn cựu quan lại của thời 1885-1945 để tại lập quyền lực ở Đông Dương. Vậy thì TẠI SAO chính phủ Việt Nam Dân Chủ  Cộng Hòa lại không tìm đồng minh để chống lại các thế lực xâm lăng? Tuy nhiên, dù rằng chính quyền Kháng Chiến Việt Nam cầu viện cả Nga và Trung Cộng, nhưng vẫn giữ vững chủ quyền độc lập, không để cho Nga hay Trung Cộng xía vào nội bộ của Việt Nam.

 Còn phe Bảo Đại thì sao? Tất cả đều do Pháp, Vatican và sau này là Mỹ nắm quyền chỉ đạo và lãnh đạo, nắm quyền làm chính sách, nắm quyền xếp đặt đưa người lên nắm chính quyền, nắm túi tiền trả lương cho quân đội, trả lương cho nhân viên chính quyền và công chức, biến quân đội thành quân đội đánh thuê cho họ, biến chính quyền thành chính quyền bù nhìn và làm tay sai cho họ. Khi Pháp rút, thì chính quyền Bảo Đại cũng teo lại và quân đội đánh thuê cho Pháp cũng phải rút theo bước chân rút lui của quân  Pháp. Khi Mỹ rút quân và cúp viện trợ, không trả lương cho quân đội nữa, thì chính quyền Saigon tan rã và đạo quân đánh thuê cho Mỹ cũng rã ngũ tan hàng. Như vậy có đúng không, thưa ông Lê Quế Lâm?

23.- Ông Lê Quế Lâm viết: Sau đó, ông HCM phát động chiến tranh “Giải phóng MN” được LX, TQ và khối CS yểm trợ. HK can dự vào cuộc chiến, dội bom Miền Bắc và đưa quân vào Miền Nam để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, chấm dứt chiến tranh. Hiệp định hòa bình đã được ký kết tại Paris ngày 27/1/1973: nhân dân Miền Nam VN sẽ quyết định tương lai MN qua cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ.”

NMQ NHẬN XÉT: Vấn đề đặt ra là TẠI SAO? Sao ông Lê Quế Lâm không đặt ra vấn đề TẠI SAO ông HCM phải phát động chiến tranh giải phóng miền Nam? Ông có biểt rằng chính  Mỹ và Vatican đã ra lệnh cho ông Ngô Đình Diệm từ chối không chịu thỏa thuận với chính quyền Hà Nội, ngồi lại với nhau bàn thảo vấn để tổ chức tổng tuyển của vào tháng 7/1956 để thống nhất đất nước một cách hòa bình không? Nguyên do là ở chỗ đó!

24.- Ông Lê Quế Lâm viết:“ Chiến tranh VN được giải quyết êm đẹp, mang lại danh dự cho cả đôi bên, không có kẻ thắng, người bại. Sau đó, HK cùng LX thương thảo việc tài giảm binh bị, chấm dứt việc chạy đua vũ trang, đồng thời xúc tiến việc bình thường hóa bang giao với TC, nhằm tạo sự hợp tác quốc tế giữa ba cực lớn (HK, LX, TQ) để bảo vệ hòa bình thế giới. Điều bất hạnh cho dân tộc là CSVN buộc những người chủ trương hòa giải dân tộc phải đầu hàng và giải tán MTGPMN. Những người lãnh đạo Đảng CSVN tiếp tục con đường chống Đế quốc Mỹ, đưa cả nước vào quĩ đạo LX, đưa quân sang Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot thân Bắc Kinh.”

 

NMQ NHẬN XÉT: Ông Lê Quế Lâm ơi, tinh thần dân tộc của ông ở đâu mà ông không biết rằng thống nhất đất nước là khát vọng của bất cứ dân tộc nào nếu chẳng may quốc gia của họ rơi vào tình trạng qua phân. Cũng vì khát vọng này mà:

a.- Tổng Thống Abraham Lincoln (1809-1865) đã phải chấp nhận tiến hành chiến tranh  kéo dài ngót nghét cả 4 năm trời (12/4/1861- 9/4/1865) cương quyết dẹp bỏ cái gọi là “Liên Bang Các Tiểu Bang Miền Nam” (The Confederate States of America) để thống nhất đất nước.

 b.- Nhà ái  quốc Von  Otto Eduarrd Leopold Bismarck (1815-1898)  của nước Đức đã phải dùng sức mạnh quân sự của nước Phổ để thống nhất các tiểu quốc Đức thành một nước Đức thống nhất vào năm 1867.

c.- Vào ngày 19/8/1870, nhà Cách Mạng Giuseppe Garibaldi (1807-1881) của nước Ý phải kéo quân vào kinh thành Rome, đem đại bác vào Tòa Thánh Vatican buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều kiện để cho chính quyền cách mạng sáp nhập các tiểu quốc Ý vào nước Ý như ngày nay, Các tiểu quốc này vốn nằm dưới quyền thống trị trực tiếp của Vatican từ nhiều thế kỷ trước. Dưới đây là bản văn sử nói về biến cố lịch sử trọng đại này:

Ngày 19 tháng 8 năm 1870, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó  đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, “người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã” kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ  St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Ý tiến vào phía trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết  một lá thư ngắn ngủi cho người cháu:

 

Cháu yêu quý: Tất cả đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con.” Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: Putnam’ s, 1984), p. 170. Link:http://en.wikipedia.org/wiki/Malachi_Martin

Trông người lại nghĩ đến ta. NẾU có lương tâm và tinh thần dân tộc, ông  Lê Quế Lâm hãy nghĩ xem tổ tiên ta đã liên tục chiến đấu đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và nhóm thiểu số phản quốc Việt gian Ca-tô ròng rã từ đầu thập niên 1860 cho đến giữa thập niên 1970, trải qua cả nhiều thế hệ, hao tốn không biết bào nhiêu công lao, tiền của và xương máu, cho đến khi Pháp rút  đi theo Hiệp Định Geneve 1954, Mỹ rút về nước theo Hiệp Định Paris 27/1/1973, chẳng lẽ lại để cho bọn Việt gian phản quốc Ca-tô đầy tớ của Vatican nghiễm nhiên chiếm  một nửa  nước hay sao?  NÊU như vậy thì chẳng hóa ra công lao hy sinh của tiền nhân ta cả mấy thế hệ chiến đấu để giành lại  chủ quyền độc lập cho dân tộc và cho sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước là công cốc hay sao, thưa ông Lê Quế Lâm?

25.- Ông Lê Quế Lâm viết:“  Đặng Tiểu Bình coi hành động này là phản bội TQ và tố cáo CSVN hợp tác với LX để thực hiện đường lối bá quyền. Đầu năm 1979, Đặng ký kết bang giao với Mỹ, lập thế liên minh: HK chống LX về mặt nhân quyền, TQ chống LX về mặt bá quyền. Ngay sau đó, TQ tấn công VN gọi là “dạy cho VN một bài học.

NMQ NHẬN XÉT: Thực ra là vì Việt Nam đã nhanh chân vào Campuchia và phá được âm mưu của TQ dùng Pol Pot để phá Việt Nam.  Bên Campuchia có dựng tượng ghi ơn người lính CS VN.

Polpot, link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Pol_Pot

26.- Ông Lê Quế Lâm viết:“  Tháng 7/1979, Hà Nội đưa ra một văn kiện ngoại giao, công bố Lê Quế tố cáo TQ trong thời gian từ 1949 đến 1979, đã “phản bội Việt Nam ba lần, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước!” Hiến pháp được sửa đổi, lên án đích danh “Bọn bá quyền TQ xâm lược” trong lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980.”

 

NMQ NHẬN XÉT: Đây chẳng phải là những việc làm ái quốc của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay hay sao? Ấy thế mà ông Lê Quế Lâm lại không biết đến?  Vẫn còn nói tầm bậy là: Đảng CSVN đã đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi dân tộc, mà quyền lợi của Đảng CSVN gắn liền với quyền lợi của Trung Quốc ngày nay.

 

27.- Ông Lê Quế Lâm viết:“ Lúc sinh thời, ông Hồ Chí Minh đã vun bồi tình hữu nghị với Đảng CS Trung Quốc, đối xử với nước CS đàn anh này “vừa là đồng chí, vừa là anh em, với lòng ưu ái thâm sâu, một lòng trung thành gương mẫu và một tình hữu nghị bền lâu”. Sau 30 năm gắn bó chặt chẽ, CSVN đã nhận chân được “chính sách của TQ là ích kỷ dân tộc và “mục tiêu chiến lược là chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và chủ nghĩa bá quyền nước lớn”.  Đây là bài học lớn giúp VN có lý do để chấm dứt sự gắn bó với TQ.

 NMQ NHẬN XÉT: Ông Lê Quế Lâm ngây thơ quá! Ông tưởng rằng Cụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam không biết dã tâm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc như vậy hay sao? Ở vào cái thế lãnh đạo chính quyền, họ phải khôn ngoan, mềm dẻo, uyển chuyển để chiến thắng trong mặt trận ngoại giao chứ! Cái đầu óc thiển cận ngồi dưới đáy giếng Ki-tô LÀM SAO nhìn ra được những việc làm của những người suốt đời bôn ba  vào tù ra khám để tranh đấu cho đại cuộc cứu nước. Nên nhớ rằng cho đến khi nhắm mắt đi vào cõi chết, cụ Hồ Chí Minh được các sử gia trên thế giới (ngoại trừ những người bị Vatican điều kiện hóa)  đều ca tụng và nhân dân thế giới đều kính nể. Xin xem bài viết “Vài Nét Về Cụ Hồ” của Giáo-sư Trần Chung Ngọc. Bài viết này có thể đọc online trên sachhiem.net,  sachhiem.us, giaodiemonline.com và nhandanvietnam.org.

28.- Ông Lê Quế Lâm viết:“Năm 1949, CSVN đã nhờ TQ yểm trợ để chống Pháp Mỹ. Nay nước nhà đã thống nhất và thấy được dã tâm bành trướng của TQ, đáng lẽ CSVN phải quay về phục vụ dân tộc. Thiết lập bang giao với Mỹ, được HK viện trợ để hàn gắn vết thương chiến tranh; đồng thời củng cố mối thân hữu sẳn có với LX và TQ, thêm bạn bớt thù để phục hưng đất nước thời hậu chiến… Nhưng Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong diễn văn chào mừng Đại hội 26 Đảng CS Liên Xô 24/2/1981, đã tuyên bố “Chủ nghĩa xã hội ngày nay là vô địch. Hệ thống xã hội chủ nghĩa là không gì phá vỡ nổi. Không một âm mưu nham hiểm nào, không một hành động hung hãn nào của bọn đế quốc và tay sai có thể đảo ngược được tình thế đó”.”

NMQ NHẬN XÉT: Ở đây, ông Lê Quế Lâm lại càng tỏ ra ngây thơ về vấn đề ngoại giao và quản trị đất nước vừa mới thoát ra khỏi tình trạng chiến tranh, lại ở vào cái thế  bị các siêu cưởng Hoa Kỳ và Vatican  bao vây và cô lập. Ông Lâm cũng không biết gì là lúc đó Vatican đang ra sức sử dụng mấy triệu tín đồ Ca-tô và vận động những tín đồ có thế lực tại các cường quốc Âu Mỹ  để đánh phá Việt Nam giống như  Vatican đã từng làm để đánh phá chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 trong những  năm 1789-1815. Ông Lê Quế Lâm không được học lịch sử thế giới, cho nên không biết những bài học về những  hành động khốn nạn này của Vatican, chứ các nhà lãnh đạo Việt Nam biết hết. Chính vì thế mà Vụ Nhà Thờ Vinh Sơn ở Sàigon xẩy ra vào năm 1976  mới bị ho dẹp tan ngay tức thì. Một tài liệu sử cho biết:

“Cầm đầu là Nguyễn Việt Hưng, nguyên sĩ quan quân đội Sài Gòn, Linh mục Nguyễn Hữu Nghị làm cố vấn. Nguyễn Việt Hưng đã tập hợp các phần tử phản động lợi dụng đạo Thiên Chúa, sĩ quan ngụy trốn trình diện, trốn cải tạo, thành viên các đảng phái cũ và các phần tử tư sản phản động, lập tổ chức mang tên Dân quân Phục quốc, lấy Nhà Thờ Vinh Sơn làm sào huyệt để tụ tập, ẩn nấp và tiến hành hoạt động phá hoại. Nguyễn Việt Hưng tự phong là thiếu tướng tư lệnh Quân đoàn Biệt kích, kiêm tổng trấn Sài Gòn – Gia Định. Ra tuyên ngôn gồm 11 điểm, định quốc hiệu, quốc kì, quốc ca, dự định lập hệ thống chính quyền phục quốc và lập các lực lượng vũ trang, in và rải truyền đơn phản động, in tiền giả. Ngày 12.2.1976, vụ án được khám phá với đầy đủ tang chứng: máy in tiền giả, máy in truyền đơn, máy thu phát vô tuyến, vũ khí, vv. Từ ngày 13 đến 16.9.1976, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa công khai xét xử và tuyên án tử hình Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Xuân Hùng; 11 tên khác bị phạt tù từ 3 năm đến chung thân.” Nguồn: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?

Nguy cơ mất nước hiện nay?

 

  29.- Ông Lê Quế Lâm viết:“ Mưu đồ của TQ giúp CSVN đánh đuổi Pháp Mỹ để VN trở thành thuộc địa và dùng VN làm bàn đạp để thống trị ĐNÁ, đã thất bại hoàn toàn. Từ 1990, CSVN quay về với TQ, cùng thực hiện Kinh tế thị trường, định hướng XHCN, cộng thêm tư tưởng Hồ Chí Minh.”

NMQ NHẬN XÉT: Ở đây, chúng ta thấy ông Lê Quế Lâm lươn lẹo: Xin ông Lâm  hiểu rằng “đổi mới” hay “xét lại” không có nghĩa quay về với Trung Quốc. Nho giáo dạy rằng “nhật tân, hựu nhật tân, nhật nhật tấn”, và các nhà lãnh đạo chính quyền  Việt Nam thường nói rằng, “vạn vật biến chuyển không ngừng”. Vì thế mà khi thi hành chính sách cải cách ruộng đất trong những năm 1953-1956, họ không biết rằng thi hành chính sách này sẽ có sự sai lầm; nhưng sau khi kiểm thảo, họ nhìn ra sai lầm, họ công khai nhìn nhận và xin lỗi nhân dân rằng họ đã sai lầm, long trọng  hứa với nhân dân rằng sẽ sửa sai ngay tức thì và  trừng phạt những cán bộ đã cố ý vi phạm những sai lầm khiến cho nhân dân bất mãn. Tên Vũ Văn Soạn, chi ủy Đảng Cống Sản tại xã Tô Công, Huyện Phụ Dực, Tỉnh Thái Bình bị kiểm thảo và bị xử bắn ngay trong thời gian sửa sai. Tên Chủ Tịch Mam ở xã Đồng Tiến, huyện Phụ Dực cũng vì tội ác này mà cũng bị xử tử. Đây là sự thật vì chuyện này xẩy ra ở quê hương của cá nhân người viết và người viết biết rõ cả hai người này trong những năm 1945-1950. Rồi cuối thập niên 1980, khi nhìn ra chính sách bao cấp không còn thích hợp vơi thời thế và hoàn cảnh mới, họ cũng quyết định sửa sai, hủy bỏ chính sách bao cấp để chuyên sang theo đuổi chính sách “kinh tế thị trường” mà họ gọi là “đổi mới”.

Điều này chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo chính quyền Việt Nam  hoàn toàn khác với các nhà lãnh đạo Vatican. Cả hai ngàn năm rồi  mà Vatican vẫn ôm chặt cái thuyết tội tổ tông láo khoét, khư khư giữ lấy thuyết chúa Ba Ngôi bất kể lả nhân dân thể giới đã lột trần bộ mặt thật bịp bợm của Vatican qua những tín lý láo khoét này. Trơ trẽn hơn nữa, Vatican vẫn còn tiêp tục rao truyền cái đạo cứu rỗi, vẫn còn  tôn vinh bà già xề nạ dòng Maria  lên làm Đức Mẹ Đồng Trinh bất kể là toàn thể nhân dân thế giới đều biết rằng bà ta đã từng lăn lộn mây mưa với hai người đàn ông và đã có tới 7 người con .

 30.- Ông Lê Quế Lâm viết:“ Ông Hồ đã an giấc ngàn thu từ 1969, ước mơ của ông sau khi chết là sẽ đi gặp Mác và Lê-nin. Ông đã nhận lãnh trách nhiệm của QTCS, giành độc lập cho VN bằng chiến tranh giải phóng dân tộc. Cuộc chiến kéo dài 23 năm từ 1946 đến ngày ông qua đời, vẫn còn mù mịt không biết đến ngày nào mới xong. Trong khi tất cả thuộc địa trên thế giới đều đã độc lập từ lâu, không tốn một giọt máu. Có lẽ vì vậy, ông muốn gặp Mác và Lê-nin để báo cáo sự việc đau buồn này. Khi VN xây dựng XHCN thì thiên đường XHCN sụp đổ ngay tại quê hương của Mác và Lê-nin. Rồi đây khi có một Viện bảo tàng về di sản lịch sử này. Xác ướp của ông sẽ được di chuyển về nằm bên cạnh xác ướp của Lê-nin và mộ phần của Mác. Hãy để người chết được yên nghĩ. Đừng để ông vướng mắc thêm sai lầm, khi ông đã mất.”

NMQ NHẬN XÉT: Ở đây chúng ta lại thấy ông Lê Quế Lâm quá dốt về lịch sử thế giới và không hiểu gì về thân phận các thuộc địa của các đế quốc có liên kết với Vatican. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Mục  có tựa đề là “Thuộc Địa Của Các Đế Quốc Tin Lành Và Thuộc Địa Của Các Đế Quốc Ki-tô La Mã”. Mục này nằm trong bài viết: ”Sách Lược Chống Lại Truyền Thống Tôn Thờ Anh Hùng Dân Tộc Ta: Trường Hợp Cụ Hồ Chí Minh”. Nguyên văn mục này như sau:

Ngay từ khi đưa ra đề nghị đưa cựu hoàng Bảo Đại lên cầm quyền để chống lại chính quyền Việt Minh Kháng Chiến vào cuối tháng 12/1945, Nhà Thờ Vatican đã phát động những chiến dịch này bằng cách đưa ra luận điệu không cần phải phát động chiến tranh làm tốn phí tới 4, 6 triệu người vì rằng thế nào rồi Pháp cũng trao trả độc lập cho Việt Nam. Thiết nghĩ rằng rất có thể luận điệu này được Giáo Hội La Mã đưa ra vào cùng thời khi viên khâm-sứ của Tòa Thánh Vaican tại Huế là Tổng Giám Muc Antoni Drapier công khai tuyên bố vào ngày 28/12/1945 rằng nên đưa Bảo Đại lên thành lập chính phủ để chống lại chính quyền Việt Minh Kháng Chiến của nhân dân ta. Sau đó, không bao lâu, vào đầu năm 1946, cũng tên Khâm Sứ đại diện Tòa Thánh Vatican  tại Huế này ra một thư luân lưu hăm có nội dung dọa tín đồ Ca-tô Việt Nam với nguyên văn như sau:

Mọi người đã hẳn đều có nguyện vọng được người đồng chủng cai trị mình. Con nhà Công Giáo ao ước có những đấng chăn chiên bản quốc… Nhưng chỉ có một mình Giáo Hội mới minh xét cho biết đã đến thời phải  thực  hiện nguyện vọng đó hay chưa. Vậy ai dùng lời nói hay báo chí để đưa dư luận đi quá cấp tốc kẻ ấy tự thị muốn đi trước Tòa Thánh Roma và tỏ thái độ xấc ngạo và bất tuân với đức giáo hoàng…. Nhận thấy ít nhiều giáo hữu Việt Nam, trong thời buổi ấy đã ăn ở phạm đến quyền của Tòa Thánh, nên chỉ định mấy điều sau đây:

1.- Chiểu khoản 2.334 luật giáo hội: kẻ nào nhờ đến thế lực phần đời mà làm ngăn trở quyền cai trị của đấng bề trên phần đạo hoặc trực tiếp hay gián tiếp thì phải vạ tuyệt thông.

 

2.- Chiếu khoản 2.331 luật giáo hội: kẻ xúc phạm đến đức giáo hòang, đức khâm mạng, hay bề trên địa phận chính thức thì tức khắc phải vạ tuyệt thông.

 

3.- Các hội đòan Công Giáo bất kỳ lấy tên nào làm danh hiệu đều buộc phải nhận quyền bề trên trong đạo..Nếu mà chối thì phải kể là người ngọai đạo, tội nhân và phải vạ tuyệt thông nữa.”

 

“Bộ Thánh Vụ Vatican ra thông cáo cho cha mẹ những vị thành niên có chân trong tổ chức cộng sản đều bị vạ tuyệt thông. Thông cáo này cũng tố cáo những ai dự vào các tổ chức có mục đích đưa thanh niên vào thuyết duy vật lôi cuốn.” Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Những Hoạt Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo Trong Thời Kháng Chiến 1945-1954 (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học, 1965), tr 17 &18.

Kể từ đó, bộ máy tuyên truyền của Nhà Thờ Vatican được lệnh khua chuông và gióng trống sao cho phù hợp với hoàn cảnh và thời thế.

Theo kinh nghiệm của người viết đã từng dạy môn lịch sử tại các trường trung học ở miền Nam Việt Nam trên mười năm trước năm 1975 và tại các trường trung học ở Hoa Kỳ trên hai mươi năm trời, thì luận điệu trên đây nghe không ổn chút nào cả. Cứ theo luận điệu này, thì những công lao và sự hy sinh mạng sống của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican từ năm 1858 cho đến năm 1954 đều là vô ích! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Mỹ – Vatican 1954-1975 để đòi lại miền Nam đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích!

Đưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho tổ quốc Việt Nam được trường tồn. Người viết cực lực phản đối luận điệu này. Để phản bác luận cứ trên đây của họ, xin quý vị cùng chúng tôi ôn lại một giai đoạn lịch sử ở Âu Châu nói về các Phong Trào Tin Lành chống Vatican và phong trào các đế quốc Âu Châu đem quân đi đánh chiếm đất đai ngoài Âu Châu làm thuộc địa.

Phong Trào Tin Lành chống Vatican :

 

 Đọc lịch sử thế giới, chúng ta sẽ thấy từ thế kỷ 16, tại Âu Châu, có hai sự kiện quan trọng:

 

Thứ nhất, từ cuối thập niên 1510, Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo bắt đầu bùng lên thành phong trào vũ trang chống lại quyền lực của Tòa Thánh Vatican. Quan trọng nhất là Phong Trào Tinh Lành do Linh-mục Martin Luther (1483-1546)   ở Đức khởi xướng, và khởi đầu vào năm 1517. Giậu đổ bìm leo. Phong trào này nổi lên như một vết dầu loang và dẫn đến việc chính quyền Anh của Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547) cũng vùng lên chống lại Tòa Thánh Vatican, chính thức ly khai khỏi Giáo Hội La Mã vào năm 1531, rồi thành lập Anh Giáo, tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội tại Anh Quốc. Sau đó, vào năm 1691, Quốc Hội Anh lại ban hành Đạo Luật Ổn Định vào năm 1691, cấm, không cho người Anh là tín đồ Da-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền. (The Act of Settlement of 1691). Đạo luật này quy định rằng không có một tín đồ Ki-tô La Mãnào có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua. Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II by his second wife.”Schrier, Arnold & Wallbank, Walter T., Living World History (Glenview, ILL: Scott Foresman and Company, 1974) p. 398..

Sau khi nước Anh nổi lên chống Vatican và thành lập Anh Giáo không được bao lâu, tại lục địa Âu Châu lại có một Phong Trào Tin Lành khác nổi lên chống Vatican. Phong trào Tin Lành này do hai nhà thần học John Calvin (1509-1564) và William Farel (1498-1566) khởi lập ở Thụy Sĩ vào khoảng năm 1537, rồi lan tràn ra nhiều nước khác ở Trung Âu, Bắc Âu và Tây Âu. Cả ba phong trào chống Vatican này (Anh Giáo, Tin Lành Luther và Tin Lành Calvin) càng ngày càng phát triển: Anh giáo bao trùm toàn thể Anh Quốc..

Tin Lành Luther và Tin Lành Calvin John Calvin được nhân dân các quốc gia Trung Âu, Bắc Âu và Tây Âu nồng nhiệt tiếp đón. Không biết sự nồng nhiệt tiếp đón đạo Tin Lành của nhân dân tại các quốc gia này là vì họ nhận thấy thuyết lý Tin Lành có lý hơn thuyết lý Ki-tô La Mã hay là vì lòng căm phẫn, thù ghét và quá ghê tởm những thủ đoạn bịp bợm và chính sách tàn ngược của Vatican, giống như một người vợ bị anh chồng ác độc đối xử quá ư tàn ngược cho nên mới phải cuốn gói ra đi với hy vọng sống với bất kỳ người đàn ông tồi tệ nào khác cũng vẫn còn hơn sống với thằng chồng khốn nạn đó. Cũng vì thế, kể từ đó, chiến tranh tôn giáo giữa những người cùng thờ ông Jesus là phe Ki-tô La Mã và các phe Tin Lành trở nên vô cùng tàn khốc và hết sức dã man. Vấn đề này đều được sách sử thế giới ghi lại rõ ràng. Trong Chương 13, sách Tâm Thư Gửi Chính Quyền Việt Nam, chúng tôi có ghi lại một số những bản văn sử nói về những hành động tàn ngược và dã man của phe Ki-tô La Mã đối với những người Tin Lành ở Pháp và ở Ái Nhĩ Lan. Riêng ở Ái Nhĩ Lan, cho đến ngày nay (2009), sự thù hận và chiến tranh vẫn còn âm ỉ giữa người Tin Lành và người Ki-tô La Mã không bằng hình thức này thì cũng bằng hình thức khác.

Cho đến cuối thế kỷ 18, đại đa số nhân dân các quốc gia Trung Âu, Bắc Âu, Tây Âu theo đạo Tin Lành. Tại các quốc gia này, những người theo đạo Ki-tô La Mã trở thành thiểu số, ngoại trừ hai nước Pháp và Ba Lan. Tuy nhiên, dù là đa số người dân hai quốc gia này vẫn còn theo đạo Ki-tô La Mã, nhưng đa số những tín hữu Ki-tô La Mã ở hai quốc gia này cũng đã bắt đầu chán ghét và ghê tởm Tòa Thánh Vatican. Nhờ vậy mà Cách Mạng Pháp 1789 mới thành công dễ dàng như chúng ta đã thấy.

Đạo Ki-tô La Mã chỉ còn chiếm đa số tại ba nước ở Nam Âu là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý Đại Lợi mà thôi. Tuy nhiên, có rất nhiều tín đồ Ki-tô La Mã ở ba quốc gia này cũng có khuynh hướng theo Cách Mạng chống lại Vatican một cách quyết liệt. Cũng nhờ vậy mà cuộc Cách Mạng Ý 1870 mới dễ dàng thành công. Vấn đề này cũng đã được trình bày đầy đủ trong các Chương 15, 16, 17, 18, 19 và 20 trong sách Tâm Thư gửi Chính Quyền Việt Nam và trong toàn bộ Mục XXVI, Phần VII của bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.

Phong trào chiếm thuộc địa:

 

Thứ hai, cũng bắt đầu từ đầu thế kỷ 16, có phong trào các cường quốc Âu Châu đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài lục địa Âu Châu để làm thuộc địa hoặc là để khai thác tài nguyên và tiêu thụ hàng hóa kỹ nghệ, hoặc là để di dân.

1.- Loại thuộc địa để khai thác tài nguyên và thị trường thêu thụ hàng hóa kỹ nghệ: Mới đầu, mẫu quốc dùng loại thuộc đia này làm thuộc địa khai thác tài nguyên và cưỡng bách người dân bản địa làm nô lệ phục dịch trong các công trường khác thác tài nguyên và các công trường xây cất dinh thự, nhà thờ, gác chuông cùng các cơ sở khác và hầu hạ họ. Cuối thế kỷ 18 sang đầu thế kỷ 19, kỹ nghệ phát triển mạnh ở Âu Châu và Bắc Mỹ, các thuộc địa của các đế quốc Âu Châu lại mang thêm tính cách là thị trường tiêu thụ hàng hóa kỹ nghệ của chính quốc và là nơi cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy kỹ nghệ tại chính quốc.

2.- Loại thuộc địa di dân như Bắc Mỹ, Úc Châu và Nam Phi: khi Lọai thuộc địa di dân là những quốc gia bị các đế quốc chinh phục rồi chiếm luôn để đem dân đến lập nghiệp và biến thành một phần đất trong lãnh thổ của chính quốc. Đây là trường hợp Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Nam Phi, v.v…. Trong trường hợp này, các quốc gia nạn nhân hoàn toàn bị xóa tên trên bản đồ thế giới.

Thuộc Địa Của Các Đế Quốc Tin Lành Khác Với Thuộc Địa Của các Đế Quốc Ki-tô La Mã

 

Chúng ta lại chia các thuộc đế quốc này ra làm hai loại: Loại thuộc địa của các đế quốc mà chính quyền đế quốc theo đạo Tin Lành, và loại các thuộc địa mà các đế quốc mà những người cậm quyền theo đạo Ki-tô La Mã hay cấu kết chặt chẽ với Vatican.

A.- Loại thuộc địa của các đế quốc theo đạo Tin Lành.-Trong công cuộc đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài lục địa Âu Châu làm thuộc địa, chính quyền các đế quốc Tin Lành có những đặc tính:

1.- Hoàn toàn hành động riêng rẽ,

2.- Không liên kết với Giáo Hội La Mã.

3.- Không có vấn đề tín đồ Tin Lành bản địa được tổ chức thành những đạo quân thứ 5 nổi lên tiếp ứng cho đoàn quân viễn chính từ chính quốc tiến đến tấn công.

4.- Không có vai trò của Giáo Hội La Mã trong bộ máy quản trị nhân dân trong các thuộc địa.

5.- Không có nhóm thiểu số tín đồ Tín Lành bản địa được.(a)- coi là thành phần nòng cốt để bảo vệ chế độ thuộc địa,, (b) sử dụng để đánh phá và tiêu diệt các phong trào khởi nghĩa của nhân dân bản địa vùng lên giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.

Vì những đặc tính “không có” trên đây, cho nên khi nhân dân thuộc địa nổi lên tranh đấu đòi lại quyền độc lập, nếu chính quyền tại chính quốc thấy rằng không thể tiếp tục làm chủ nhân ông tại các thuộc địa được nữa, liền quyết định trao trả chủ quyền độc lập cho họ, tất nhiên là không có Giáo Hội Tin Lành nào níu kéo đòi đem quân đến đàn áp các phong trào kháng chiến của nhân dân bản địa, và cũng không có vấn đề nhóm tín đồ Tin Lành bản địa tìm cách năn nỉ, lạy lục để níu kéo chính quốc đem quân tái chiếm hay vận động chính quyền đế quốc khác đem quân đến giúp đỡ đưa họ lên cầm quyền để họ tiếp tục bán nước và “mở mang nước Chúa”. Đây là các thuộc địa của Đế Quốc Anh và Đế Quốc Hòa Lan ở các lục địa Phi Châu, Mỹ Châu, Đại Dương Châu và Á Châu, trong đó có Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan, Mã Lai, Indonesia.

B.- Loại thuộc địa của đế quốc Ki-tô La Mã:

 

Trong công cuộc đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài lục địa Âu Châu làm thuộc địa, chính quyền đế quốc theo đạo Ki-tô La Mã có những đặc tính:

1.- Dùng các tài liệu tình báo do Vatican và tín đồ Da-tô bản địa cung cấp.

2.- Cấu kết với Tòa Thánh Vatican thành một liên minh xâm lược.

3.- Dùng các giáo sĩ truyền giáo người Âu đã từng hoạt động tại địa phương làm thành phần trung gian để sử dụng giới tu sĩ và nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa trong các chiến dịch quân sự tấn chiếm, bình định và thiết lập bộ máy đàn áp nhân dân.

4.- Nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa được đoàn ngũ hóa, được tổ chức thành những đạo quân thứ 5 và lực lượng xung kích nằm hờ chờ sẵn khi đoàn quân viễn chinh liên minh với Vatican tiến vào thì nổi lên tiếp ứng.

5.- Vatican đã chuẩn bị đầy đủ nhân sự gồm những tín đồ Da-tô bản địa thuộc loại “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” làm những việc đưa đường, dẫn lối, chỉ điểm, thông ngôn, tra tấn tù nhân, lao công, thư ký và gia nhập các đạo quân đánh thuê làm các công việc canh giữ, tiếp tế, khuân vác, v.v…

6.- Nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa trở thành thành phần xã hội được chính quyền bảo hộ tin tưởng nhất, được biệt đãi và biến thành lực lượng nòng cốt để bảo vệ chế độ.

Vì cả 6 đặc tính trên đây, cho nên khi nhân dân thuộc địa nổi lên tranh đấu đòi lại quyền độc lập, thì chính Vatican và nhóm tín đồ Da-tô bản địa trở thành thế lực cương quyết sử dung bạo lực để bảo vệ chế độ và thẳng tay đàn áp các phong trào nổi dậy của nhân dân bằng bất cứ giá nào dù là dã man đế mức nào đi nữa họ cũng làm. Những hành động tàn ngược và dã man của tín đồ Da-tô trong vụ tàn sát gần 20 ngàn người Tin Lành Pháp ở St. Bartholomew trong ngày 22/8/1572, vụ tàn sát người Tin Lành Ái Nhĩ Lan vào năm 1641, vụ tàn sát hơn 700 ngàn người Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và Hồi Giáo ở Croatia trong những năm 1941-1945, tàn sát gần 800 ngàn người Tutsis trong năm 1994 và vai trò của Nhà Thờ Vatican cùng nhưng hành động của tín đồ Ca-tô người Việt triệt để tuân hành lệnh tuyền của Vatican để chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975 và cho đến ngày nay là những bằng chứng rõ rệt nhất cho sự kiện này. Xin xem lại Chương 7 (Mục III, Phần II) sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net/.us.

Bất kỳ thuộc địa nào nằm dưới ách thống trị của bất kỳ đế quốc xâm lược nào có cấu kiết hay liên minh với Vatican đều bị Vatican bám chặt như loài đỉa đói. Chỉ khi nào chính quyền bản địa hoàn toàn lọt vào tay Vatican qua một chính quyền đạo phiệt Da-tô bản địa mà hậu trường sân khấu chính trị là hội đồng giám mục địa phương (một nhóm cán bộ tay sai đắc lực của Vatican tại địa phương điều khiển) thì khi đó, Vatican không những không níu kéo hay van nài chính quyền đế quốc đã từng liên minh với Vatican trong việc tấn chiếm và thống trị quốc gia thuộc địa đó, mà còn xúi giục bọn tín đồ cầm quyền tìm cách tống xuất đế quốc này ra khỏi lãnh thổ hay đòi hỏi đế quốc này phải trao trả độc lập cho chính quyền bản địa tay sai của Vatican.

 

Tất cả các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ thuộc loại thuộc địa này. Cũng vì thế mà hầu hết những người cầm quyền ở các quốc gia Châu Mỹ La-tinh, ở Phi Luật Tân, ở các cựu thuộc địa của Bồ Đào Nha, của Bỉ, và của Pháp tại Phi Châu và tại Việt Nam đều trở thành những tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại có tên trong cuốn Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004) của sử gia Nigel Cawthorne  , và cũng vì thế mà trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại được nêu lên trong cuốn sách sử này, có tới hơn 60% là các bạo chúa Ki-tô La Mã, trong đó hầu hết là những bạo chúa Ki-tô La Mã ở trong các cựu thuộc địa của các đế quốc thực dân xâm lược Âu Châu có cấu kết với Vatican như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ.

Việt Nam là thuộc địa của Liên Minh Pháp – Vatican và tất nhiên là ở vào trường hợp bị Vatican bám chặt như loài đỉa đói. Vì thế mà nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong những cuộc chiến vô cùng gian khổ, cực kỳ khó khăn và kéo dài cả một thế kỷ từ 1858 cho đến ngày 30/4/1975 mới có thể tống cổ được thằng giặc Vatican ra khỏi đất nước. Nếu không chiến đấu như vậy, thì Việt Nam đã trở thành một quốc gia giống như Phi Luật Tân hay các quốc gia Châu Mỹ La-tinh, và trong cuốn Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators trên đây của sử gia Nigel Cawthorne không phải chỉ có một thằng phản thần tam đại Việt gia Da-tô Ngô Đình Diệm là người Việt Nam ở trong đó, mà còn có thêm một vài tên bạo chúa Da-tô người Việt Nam khác nữa.

Hy vọng phần trình bày trên đây là những lời phản bác rõ ràng để trả lời những người đưa ra luận điệu cho rằng “không cần phải phát động chiến tranh làm tốn phí cả 4 hay 5 triệu sinh linh, thì rồi đến lúc nào đó, Pháp cũng phải trao trả lại chủ quyền độc lập cho dân ta như người Anh đã trả lại chủ quyền độc lập cho Ấn Độ...”

Chủ trương hủy diệt các tôn giáo cổ truyền

Trên đây là kế sách của Giáo Hội La Mã về chủ trương hủy diệt các tôn giáo cổ truyền của các dân tộc Đông Phương cũng như chủ trương phỉ báng và hủy diệt những đại chiến công của các đại anh hùng dân tộc ta và chủ truơng triệt hạ uy tín của danh nhân vĩ nhân, chính khách và các nhà viết sử có những tác phẩm nói lên những việc làm bất chính của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua.

Đọc những bản văn, các tài liệu và các tác phẩm của những tín hữu Ki-tô nói về các danh nhân vĩ nhân mà chúng tôi đã nêu lên ở trên hoặc là các nhà viết sử người Việt trong những năm sau 1963 ở miền Nam Việt Nam và ở hải ngọai sau năm 1975, chúng ta sẽ thấy rõ vấn đề này. Những bản văn được viết ra nhằm để phỉ báng và triệt hạ uy tín Đỗ Mậu (tác giả cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi) trong các cuốn Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (Fall Church, VA: Alpha, 1991) của Linh Mục Vũ Đình Hoạt, Việt Nam Chính Sử (Fall Church, VA: Alpha, 1992) của con chiên Nguyễn Văn Chức, trong một loạt bài viết của con chiên Sức Mấy Đinh Từ Thức đăng trong nhiều số báo Văn Nghệ Tiền Phong từ cuối năm 1987 cho đến hết năm 1989, v.v.. những bản văn đăng trên các tờ báo giấy lá cải và trên các mạng điện tử ở hải ngọai của các  con chiên người Việt để phỉ báng tác giả Trần Chung Ngọc và cá nhân người viết cũng đều nằm ở trong kế sách này của Giáo Hội La Mã.

– Bài viết này có thể đọc online trên saschhiem.net và sachhiem.us

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ026a.php.

31- Ông Lê Quế Lâm viết: TQ còn dựa vào công hàm 1958 của TT Phạm Văn Đồng để khẳng định Biển Đông bao gồm hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.”

NMQ NHẬN XÉT:  Công hàm của Phạm Văn Đồng không có giá trị vì chưa được sự chấp thuận và thông qua của Bộ Chính Trị (PolitBureau) trong cấu trúc quyền lực quyết định tập thể tức là chính quyền chìm (informal government) hay của Quốc Hội trong cấu trúc chính quyền nổi (formal government).

 

 

Bản đồ Biển Đông do người Hà Lan vẽ vào năm 1754 ghi nhận quần đảo Hoàng Sa dưới tên De Paracelles, Link:http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_%C4%91%E1%BA%A3o_
Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Sa

Biến động Biển Đông: Thời cơ thuận lợi giúp dân tộc hồi sinh

 

32.- Ông Lê Quế Lâm viết: Trước sự “diệu võ dương oai” của TQ, trong Hội nghị Diễn đàn ASEAN (ARF) tại Hà Nội ngày 23/7/2010, bà Hillary Clinton tuyên bố: Mỹ chống lại bất cứ quốc gia nào xữ dụng vũ lực ở biển Đông, vì lẽ HK cũng như các quốc gia khác có quyền lợi thiết yếu về tự do lưu thông trên các thủy lộ và tôn trọng luật pháp ở biển Đông. HK ủng hộ việc quốc tế hóa các tranh chấp về hải phận và ủng hộ các nước muốn giải quyết việc tranh chấp bằng thương thuyết dựa trên cơ sở Công ước của LHQ về luật Biển. Sau đó HK đưa Hàng không mẫu hạm nguyên tử George Washington đến biển Đông tham gia tập trận với các nước trong khu vực.”

 

NMQ NHẬN XÉT: Hội Nghị Diễn đàn ASEAN (ARF) được tổ chức  tại Hà Nội vào  ngày 23/7/2010 chứng tỏ rằng chính sách ngoại giao và phương cách đối phó với tham vọng bá quyền của Trung Cộng của chính quyền Việt vừa cương quyết và cứng rắn trong lập trường bảo vệ quyền lợi tối thượng của  dân tộc, vừa khéo léo và mềm dẻo để lôi cuốn  các nước Á Châu trong vùng và Hoa Kỳ vào cùng một chiến tuyến đối đầu với Trung Cộng. Ấy Thế mà học giả Lê Quế Lâm lại không nhìn ra sự thực này. Thật là đáng tiếc và tội nghiệp cho cái tước hiệu học giả của ông Lâm!

33.- Ông Lê Quế Lâm viết: HK chỉ cần VN đáp ứng một cách cụ thể, VN sẽ thi hành Điều 9 của HĐ Paris 1973, trong đó VNcam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân MNVN, thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do, dân chủ, có giám sát quốc tế”.Điều khoản này dành cho nhân dân MNVN, nhưng nay đất nước đã thống nhất, CSVN phải tôn trọng quyền tự quyết của toàn dân VN. Và Điều 11: bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và tự do kinh doanh”.

 

NMQ NHẬN XÉT: Điều khoản này quy định cho hai phe ở miền Nam: Chính quyền Thiệu và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,  sau khi ngưng bắn (Immediately after the cease-fire, the two South Vietnamese parties will: ensure the democratic liberties of the people…)  Sau khi nước nhà thống nhất, tùy theo tình hình chính trị và xã hội, không thể có chuyện tự do bừa bãi như TGM Ngô Quang Kiệt huy động giáo dân thắp nến cầu nguyện đòi đất với búa, kìm và xà beng, hay quyền làm loạn nói bậy trong Tòa án như LM Nguyễn Văn Lý v.v…

34.- Ông Lê Quế Lâm viết: Khi HK trực tiếp can dự vào cuộc chiến VN, TQ giương ngọn cờ độc lập dân tộc, chống cả hai siêu cường Nga Mỹ có âm mưu nô dịch nhân dân thế giới. Lúc bấy giờ HK tìm cách giải quyết chiến tranh VN bằng biện pháp hòa giải ba bên Miền Nam VN. Do đó HK không dùng quyền phủ quyết, giúp TQ gia nhập LHQ, trở thành ủy viên thường trực HĐBA. Từ đó, TT Nixon đi tìm sự kết hợp với LX và TQ) để kết thúc chiến tranh VN.”

NMQ NHẬN XÉT: Sai: trong cuộc Kháng Chiến 1954-1975 của dân ta, Trung Quốc chỉ viện trợ cầm chừng cho Việt Nam để cầm chân Hoa Kỳ không thể bành trướng và lấn lướt lướt hơn nữa, chứ Trung Quốc không hề nghĩ đến việc giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc như ông Lâm lầm tưởng. (Có tài liệu nói rằng TQ không muốn cho Việt Nam thống nhất.)

35.- Ông Lê Quế Lâm viết: Sau khi VN ký Hiệp ước hợp tác hoàn toàn với LX, đầu năm 1979 TQ thiết lập bang giao với Mỹ. Từ đó, họ công kích LX về mặt bá quyền, đồng thời thực hiện “Bốn hiện đại hóa” và xây dựng nền kinh tế thị trường. Nhờ hợp tác chặt chẽ với Thế giới Tự do, nên TQ được HK, Nhật Bản và Tây Âu yểm trợ, giúp TQ từng bước trở thành một cường quốc kinh tế, chỉ đứng sau HK.”

NMQ NHẬN XÉT: Sao ông học giả Lê Quế Lâm  ngây thơ thế! Trên đấu trường chính trị quốc tế luôn luôn là như vậy. Có gì mà phải nói!.

36.- Ông Lê Quế Lâm viết: “Từ 1990, VN trở về hợp tác toàn diện với TQ, nay biển Đông bị TQ khống chế, bịt đường tiến của dân tộc. VN sẽ phải lệ thuộc toàn diện vào TQ…Nhưng đồng bào trong ngoài nước đã xuống đường biểu tình phản đối TQ. Giờ đây, VN chỉ còn cách theo gương TQ, hợp tác và nhận sự giúp đỡ của HK để phát triển.”

 

 NMQ NHẬN XÉT: Sai và vu khống! Ông Lâm đòi dạy khôn những người đã lăn lộn trên chính trường từ khi còn thiếu thời. VN và HK đã cùng nhau hợp tác từ lâu.  Ngoại trưởng và tướng lãnh Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, Mỹ có nhiều công ty liên doanh ở Việt Nam, đâu có chờ ông Lế Quế Lâm ngu ngơ dạy khôn.

37.- Lê Quế Lâm viết: “Kính thưa Đồng bào,Đất nước hiện nay đã có thế Thiên thời và Địa lợi, chỉ cần yếu tố Nhân hòa. Tương lai dân tộc, tùy thuộc sự suy tư và hành xử của đồng bào và Đảng CSVN. Xin nhắc lại, từ đầu thập niên 1920, ông Hồ Chí Minh đã đặt sự tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác-Lê.” 

NMQ NHẬN XÉT: Hoàn toàn sai.  Sau đây là vài tài liệu trong bài “Vài Nét Về Cụ Hồ” của Gs Trần Chung Ngọc:

“Duiker đã viết về ông Hồ như  một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin [A patriot closer to Thomas Jefferson than to V.I. Lenin]  “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người quốc gia đã mang lại sự lãnh đạo, viễn kiến và sự cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết “ (Duiker rightly notes that Ho had deep roots in the international Communist movement; but he was a constant nationalist who provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of self-determination.)

“Ông Hồ không hề nao núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc gia.  Lời tuyên bố của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Mác.  Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ, độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai” [Ho unabashedly used communism for his own nationalist ends. His statement that “the peoples of Indochina still live and will live forever” is hardly compatible with Marxism. Duiker insists that for Ho, national independence always was the primary goal, while the doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the future.]   Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc vì những nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đã thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho người Việt Nam và cho thế giới (Duiker painfully reminds us that external Cold War considerations led to the failure of Paris and then Washington to grasp Ho’s hand, resulting in profound consequences for the Vietnamese people and the world.

Ông Lê Quế Lâm nên đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ để xem ông ta “tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác-Lê” như thế nào: !

Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”  có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học  Denis-Diderot, Paris-VII.  Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist).  Giáo sư Brocheux trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou.  Stalin đã củng cố quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937.  Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào.  Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.” (En 1934, il est de retour à Moscou.  Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937.  Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité.  Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)

“Về vấn đề này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924..  Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc tính Á Đông: Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương.  Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử.  Nhưng là lịch sử nào?  Đó là lịch sử Âu Châu.  Nhưng Âu Châu là gì?  Không phải là tất cả nhân loại.”  (À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire.  Mais quelle histoire?  Celle de l’Europe.  Mais qu’est ce que l’Europe?  Ce n’est pas toute l’humanité).

“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không?  Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ? như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đã nói.  Vấn đề này đáng được đặt ra..  Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của  ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“  (Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste?  Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy?  La question mérite d’être posée…  S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.

Ông Lê Quế Lâm cũng nên đọc thêm một tài liệu của Jules Archer trong cuốn Ho Chi Minh, Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

“Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov.  Trong những cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam.  Ông Hồ biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm.”  (Visiting Peking in 1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail Suslov.  In private negotiations,  he managed to win pledges of additional arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers to send “volunteer” troops or military advisers.  Ho knew that if either the Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam lost its independence and became a captive nation.)

38.- Ông Lê Quế Lâm viết: ”Một chủ nghĩa còn quá mới mẻ, chưa được kiểm chứng về sự toàn thiện và đáng tin cậy của nó, nhưng ông Hồ vội coi đó như là khuôn vàng thước ngọc mà cách mạng VN phải theo. Ông còn đem vận mạng dân tộc cột chặt vào LX và thề trung thành mãi mãi với sự liên kết đó. Đảng CS Đông Dương vừa được thành lập, liền phát động Phong trào Sô Viết Nghệ Tĩnh (1931) đã làm đồng bào kinh hoàng CS vì khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào – Cào tận gốc, trốc tận rễ”.

NMQ NHẬN XÉT:  Xin đọc lại phần trên về ông Hồ Chí Minh của Gs Trần Chung Ngọc.  Khẩu hiệu này không có trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.  Đảng CS mới thành lập và trước sự bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp trong hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, đảng CS đã tổ chức công nhân đứng lên phản đối.  Và phong trào này sau đó lan ra nhiều vùng khác. Chính quyền Việt Nam hiện nay đã bỏ sau lưng những điều ông Lê Quế Lâm còn tưởng tượng như trên và đang thi hành chính sách “hòa hợp hòa giải dân tộc”. Thế nhưng, Vatican và nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô vong bản lại lợi dụng hoàn cảnh đất nước hiện nay để mở chiến dịch gây bạo loạn đánh phá  đất nước, mưu đồ lật đổ chính quyền để tái lập quyền lực cho  Vatican ở Việt Nam. Đây là sự thật bất khả phủ bác với  những bằng chứng hiển nhiên là các vụ gây bạo loạn tại các địa điểm Nguyệt Biều (Huế), số 42 Phố Nhà Chung (Khâm Thiên, Hà Nội), số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng (Ấp Thái Hà, Hà Nội), Nhà Thờ Tam Tòa (Đồng Hới), Cồn Dầu (Đà Nẵng), An Bằng (Huế), v.v…

39.- Ông Lê Quế Lâm viết: ”Khi Thế chiến II chấm dứt, các cường quốc thắng trận đề ra chủ trương “giải trừ chế độ thực dân”. Đảng CSĐD không còn hữu dụng trong tình thế mới, phải tuyên bố tự giải tán. Nhưng 6 năm sau, với sự ủng hộ của CSTQ, đảng CSĐD hoạt động trở lại với danh xưng Đảng Lao Động VN. Tư tưởng Mao được ghi vào điều lệ của đảng, và cuộc Cải cách ruộng đất do cố vấn TQ hướng dẫn, đã phá nát xã hội truyền thống dân tộc. Tiếp theo là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, CSVN bị TQ lợi dụng triệt để nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc của họ.” 

 

NMQ NHẬN XÉT: Về Cải Cách Ruộng Đất, xin đừng lầm lẫn chính sách với thi hành; hãy đọc Edwin E. Moïse trong “Land Reform in China and North Vietnam”. Link:http://www.clemson.edu/caah/history/FacultyPages/EdMoise/landbook.html   Trung Quốc có thể có ý đồ lợi dụng CSVN, nhưng chính quyền Việt Nam đã khôn khéo, không để cho Trung Quốc lợi dụng. Chính vì thế mà trong cuộc chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam xẩy ra ở mấy tỉnh biên giới Việt – Trung từ ngày từ ngày 17/2/1979 đến ngày 18/3/1979, chính quyền và nhân dân ta mới có khả năng đánh trả mãnh liệt, giáng cho 600 ngàn quân xâm lăng TQ những đòn chí tử  khiến cho quân giặc phải tự động rút lui. Thử hỏi, NẾU “CSVN bị Trung Quốc lợi dụng triệt để nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc của họ” THÌ làm sao chính quyền và nhân dân ta có thể thành công trong việc đánh trả cả 600 ngàn quân xâm lăng với  đầy đủ vũ khí hiện đại của họ?

40.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Chủ nghĩa CS đã cáo chung ở nơi đã sản sinh ra nó và hoàn toàn không phù hợp với xã hội VN từ khi được du nhập vào nước ta…”

NMQ NHẬN XÉT: Không hẳn vậy.  Chủ nghĩa CS đã được toàn khối Đông Âu theo một thời.  Ngày nay hầu như trong mọi nước vẫn còn đảng CS.  Riêng về VN, chủ nghĩa CS đã giúp cho Việt Nam thắng được hai cuộc chiến chống ngoại xâm, tiền Geneva và hậu Geneva.  Nhưng khi nước nhà độc lập rồi thì áp dụng “cách mạng bạo lực” đã không còn thích hợp nữa.  Và Việt Nam đã nhìn xa và thay đổi, đổi mới, từ 1986, trước khi khối CS sụp đổ vào năm 1989.  Nói đến chủ nghĩa CS ở Việt Nam ngày nay là không biết đến câu: “Ông Hồ chôn rồi nhưng chưa chết; CS chết rồi nhưng chưa chôn.”  Và những người muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng không dám để cho Cộng sản chết, vì chết là hết chuyện, lấy gì mà gây thù hận.

41.- Ông Lê Quế Lâm viết:” Karl Kautsky (850-1938) lãnh tụ đảng Dân chủ Xã hội Đức chủ trương: “Kết hợp cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với nền chính trị dân chủ của các nước văn minh tiến bộ, coi con đường tiến tới quyền lực phải bắt buộc thông qua các cuộc bầu cử”. Kautsky đã cùng Karl Marx (1818-1883) thảo bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848. Marx thành lập Quốc tế I năm 1866, hô hào giai cấp công nhân đoàn kết và nổi dậy thành lập nhà nước vô sản. Công xã Paris 1871 bị thất bại nặng nề, Quốc tế I cáo chung. Kautsky cũng là bạn thân của Frederick Engels (1820-1895) lãnh tụ Quốc tế II thành lập năm 1889, sau khi chứng minh sự lỗi thời của học thuyết Marx, không còn phù hợp với tình hình xã hội mỗi ngày có sự thay đổi lớn. Kautsky cực lực phản đối chủ trương Cách mạng bạo lực và Quốc tế III của Lenin. Ông lên án chế độ độc tài do Lenin thành lập ở Nga sau Cách mạng Tháng 10 (1917) là “Sản phẩm của một quốc gia chậm tiến không có truyền thống dân chủ”.

NMQ NHẬN XÉT: So với các cuộc cách mạng trên thế giới, Pháp 1789, Nga 1917, TQ 1949 v…v… thì cuộc cách mạng ở Việt Nam, 1945, có thể nói là ôn hòa nhất.  Một khi chủ nghĩa CS đã cáo chung, như tác giả khẳng định, mà tại sao tác giả vẫn nhắc lại một chiều những điều đã không còn tồn tại để “tố Cộng”. Marx được Âu Châu tôn vinh là một trong những triết gia vĩ đại nhất của thế giới.  Chủ thuyết Marx và chính sách CS ở Nga và Tàu là hai chuyện khác nhau. Nhưng chẳng phải chỉ có CS mới độc tài mà các thể chế được cho là dân chủ cũng độc tài không kém, điển hình là chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam.

Kết Luận:

 

Mang danh là trí thức, những nhà viết sử chân chính phải có can đảm trình bày những sự thật lịch sử mà không vướng vào hội chứng thù nghịch quốc-cộng của mấy chục năm trước.  Lịch sử không có tính cách bè phái, History doesn’t take side, người Mỹ thường nói.  Chúng ta không thể cứ đóng sập cửa vào mặt sự thật ngay cả khi sự thật đến gõ cửa.  Tôi chỉ hi vọng chúng ta hãy có một chút lương thiện trí thức và có can đảm đối diện với những sự thật lịch sử dù có đau lòng cách mấy đi nữa.

Người viết sử không nhất thiết phải là người đã đích thân chứng kiến những sự kiện lịch sử do đó có thể đưa ra những nhận định chính xác về những sự kiện lịch sử.  Nhưng qua những tài liệu khả tín về những sự kiện lịch sử, những tài liệu tương đối không có thiên kiến của các học giả đã có uy tín trong giới chuyên nghiệp, hoặc giới khoa bảng trí thức, chúng ta có thể với một chút lô-gíc trong nghệ thuật tổng hợp và phân tích, rút ra một mẫu số chung đáng tin cậy.

 

Nguyễn Mạnh Quang

 


Tài liệu 1: Dưới đây là nguyên văn “Hải Ngoại Tâm Thư” của ông Lê Quế Lâm:

 

 

Hải ngoại tâm thư gởi đồng bào

Lê Quế Lâm

(11/10/2011)

 

Do biến động của lịch sử, trong hơn 3 thập niên qua, đồng bào ta chia thành hai bộ phận, hiện nay có khoảng 3 triệu người đang sinh sống ở hải ngoại. Dù sống xa quê hương, song đồng bào hải ngoại luôn hướng về đất nước, theo dõi các bước thăng trầm của Tổ quốc. Nay biển Đông đang bị Trung Quốc đe dọa nặng nề, chúng tôi gởi thơ này về quê hương để tâm tình cùng đồng bào chuyện nước non, nói lên những trăn trở của những người sống ở hải ngoại trước quốc nạn của dân tộc.

 

   Ngày 30/4/1975, binh sĩ Miền Nam buông súng để chấm dứt chiến tranh, đất nước thống nhất. Hai miền đất nước vừa được tái hợp, dân tộc lại chia ly, xa nhau vạn dậm. Khoảng ngăn cách mở rộng, từ sông Bến Hải nhỏ hẹp trở thành bao la như đại dương. Nhắc lại 10 năm đầu đất nước thống nhất, vô tình nhắc lại ký ức đau buồn của dân tộc. Lúc đó đồng bào phải ăn độn bo bo, dù Miền Nam từng là vựa lớn nhất nhì thế giới. Mọi nhu yếu phẩm ngày càng suy cạn, kinh tế xuống dốc trầm trọng. Trong hoàn cảnh bi đát đó, Nhà nước chủ trương đổi mới để sống còn. Đồng bào cũng phải tìm mọi cách để vượt qua cảnh khổ.

 

   Cá nhân tôi, vào thời điểm 1977-1982, đang lao động cải tạo ở Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Phú. Tôi là một giáo chức, gia nhập quân đội để bảo vệ tự do cho Miền Nam, được phân công làm công tác nghiên cứu về chiến tranh VN tại một cơ quan do Hoa Kỳ thiết lập. Mục đích của người Mỹ là tìm hiểu thực chất cuộc chiến VN và người bản xứ nhận định như thế nào về cuộc chiến của chính họ? Tôi nhận xét, VN là chiến trường chính của cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Liên Xô sau Thế chiến II, thường được gọi là chiến tranh lạnh. Cả hai siêu cường đều tận tình yểm trợ cho hai đồng minh của mình là Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản Hà Nội. Vì thế cả hai bên VN vô tình trở thành con cờ của ngoại bang, họ sẳn sàng thí bỏ nếu thấy có lợi cho họ.

 

    Bài học đầu tiên mà những người Cộng sản chiến thắng rao giảng là “Đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất của nhân dân toàn thế giới” và “Ngụy quyền (MN) là tay sai đắc lực của Đế quốc Mỹ”. Tai tôi nghe thuyết giảng nhưng trong đầu óc cứ suy nghĩ: CSVN xuất phát từ Liên Xô, được khối CS tận tình chi viện để chiếm MN, đưa cả nước vào quĩ đạo Liên Xô. CSVN đích thị cũng là tay sai của LX. Chủ nghĩa CS có phải là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với những người yêu chuộng tự do trên thế giới hay không?

 

    Điều đau buồn, tôi đang sống ở phương Nam Tổ quốc, nay do cơ trời xui khiến có mặt tại Phú Thọ (Vĩnh Phú), nơi các vua Hùng dựng nước. Quốc tổ sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy đám hậu duệ, sau gần 5000 năm oai hùng, nay trở thành những kẻ vong thân, vong bản, cúi đầu làm tay sai cho ngoại bang, chia rẻ dân tộc!!! Nổi trăn trở khiến tôi quyết định phải viết một quyển sách về chiến tranh VN. Chỉ có những người lãnh đạo mới làm tay sai cho ngoại bang, phản bội dân tộc. Còn tình nghĩa dân tộc thì bất diệt, lấy sự thương yêu đùm bọc như bầu với bí sống chung một dàn làm biểu tượng, là sợi dây keo sơn gắn bó đã liên kết dân tộc thành một khối bất khả phân ly. Mỗi khi có dịp lao động ở vùng rừng núi, có lẽ Đền Hùng ở Lâm Thao và lăng tẩm các vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh cũng ở đâu đây, tôi khấn nguyện Quốc tổ, tiền nhân và hồn thiêng sông núi độ trì cho tôi sớm thoát chốn lao tù, vượt biển thành công, tâm trí còn sáng suốt để thực hiện hoài bão. Nếu Quốc Tổ không chuẩn nhận lời cầu xin chân thành, tôi chỉ mong nắm xương tàn được vùi chôn tại Đất Tổ thiêng liêng, cội nguồn của dân tộc.

 

     Nhờ Trời còn thương tưởng, tôi đến được bến bờ tự do, định cư ở Úc từ cuối năm 1984, cùng thời điểm Phủ Cao Ủy Tị Nạn LHQ tổ chức giúp gần một triệu đồng bào thuyền nhân chúng ta định cư ở hải ngoại. Đại đa số ở các nước tân tiến như Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Pháp và Anh Quốc. Tôi tin tưởng, tất cả đều do hồn thiêng sông núi, Quốc tổ và tiền nhân độ trì. Tôi viết quyển sách theo như hoài bảo đã khấn nguyện với Quốc tổ. Quyển Việt Nam: Thắng và Bại – Bản Nghiên cứu tổng kết cuộc chiến Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh lạnh 1949-1991, được phát hành năm 1993.

 

   Qua lời tự giới thiệu, Hải ngoại tâm thư gởi đồng bào không xuất phát từ một thế lực thù địch nào cả, mà chỉ theo gương người xưa. Hơn một thế kỷ trước, đã có một lá thư từ hải ngoại gởi về. Đó là Hải Ngoại Huyết Thư của cụ Phan Bội Châu gởi từ Nhật Bổn. Cụ đã nhờ cụ Phan Chu Trinh mang về nước. Ngày nay, Hải ngoại Tâm thư cũng chỉ vì lợi ích tối thượng của đất nước, vì tiền đồ dân tộc như chúng tôi đã thành tâm khấn nguyện với Quốc Tổ và các bậc tiền hiền đã dầy công dựng nước, mở rộng giang sơn, bảo vệ Tổ quốc.

 

    Trước quốc nạn của dân tộc, giới nhân sĩ trí thức trong nước đã kiến nghị giới lãnh đạo Đảng CSVN công khai hóa thực trạng quan hệ Việt-Trung, nhấn mạnh vào nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, tôn trọng các quyền tự do dân chủ của nhân dân để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước. Giới trí thức hải ngoại cũng đã lên tiếng, nhưng gây nhiều tranh cải. Trong bài “Nhận xét và Góp ý về thư ngỏ của 36 trí thức hải ngoại”, tôi có viết “Nếu được Gs Vũ Quốc Thúc đồng ý, chúng tôi sẽ gởi về nước một lá thư để tâm tình và chia sẻ cùng đồng bào, mối ưu tư chung về tình thế nghiêm trọng của đất nước”.

 

   Do vận nước truân chuyên, nhân tâm còn phân hóa, ông chưa thực hiện được hoài bão tái thiết và phát triển đất nước và phải rời quê hương. Ông tâm sự: “Nếu ly hương là một quyết định khó khăn…thì sự hồi hương cũng không phải là một sự chọn lựa dễ dàng. Nhưng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng điện tử hiện thời, dù xa quê hương, ta vẫn có thể tham gia tích cực mọi sinh hoạt ở quốc nội. Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thu hẹp khoảng cách không gian và thời gian. Những việc xảy ra ở trong nước, chúng ta có thể biết rõ trong vài giờ sau, có khi biết tức thì. Do đó nếu cần ta có thể tham gia tích cực. Điều kiện tất yếu là phải quan tâm, phải tha thiết với dân tộc”.

 

   Đề nghị phác thảo Hải ngoại tâm thư được Gs Thúc tán đồng và viết phần Dẫn nhập. Rồi đây, với tiến bộ của Internet, đồng bào trong và ngoài nước gần gủi nhau hơn, vun bồi tình nghĩa Dân tộc, cùng mưu tìm hạnh phúc cho toàn dân. Nay Gs VQT đã ngoài 90, hoài bão Tái thiết và Phát triển Đất nước chưa thực hiện được. Ông chỉ mong, những tháng ngày ngắn ngủi còn lại, làm được một chút gì đó, để Tái thiết và Phát triển Nhân tâm, tạo thế Nhân hòa, sau hơn 60 năm dân tộc bị phân hóa nặng nề. Đó cũng là hoài bão của cá nhân tôi. Nhờ đó, việc Tái thiết và Phát triển Đất nước mới thành tựu, với sự đóng góp nhân tài và vật lực của toàn thể đồng bào trong và ngoài nước.

                           

Kính thưa Đồng bào,

 

    Chúng tôi, những đứa con Việt Nam phải rời bỏ quê hương vì không chấp nhận chế độ CS. Đảng CSVN đã đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi dân tộc, mà quyền lợi của Đảng CSVN gắn liền với quyền lợi của Liên Xô lúc trước và Trung Quốc ngày nay. Vì thế không thể có đối thoại. Vã lại, Dân chủ tự do thì làm sao nói chuyện được với Độc tài chuyên chính. Những nguyện vọng cùng những thao thức của chúng tôi xin được gởi đến đồng bào trong nước. Chính đồng bào sẽ là nhân tố quyết định hướng tiến lên của dân tộc để sánh bước cùng năm châu bốn bể.

 

    Đồng bào quốc nội lại không có quyền tự do bày tỏ chính kiến và nguyện vọng của mình. Người dân thể hiện lòng yêu nước, xuống đường biểu tình phản đối TQ cũng bị ngăn cấm, đàn áp. Đã đến lúc đồng bào trong và ngoài nước cùng gióng lên tiếng nói chung, bày tỏ nguyện vọng thiết tha của dân tộc. Nhưng ai sẽ lắng nghe tiếng nói của chúng ta? Đây là nguyện vọng chính đáng của toàn dân, nếu những người lãnh đạo không chịu lắng nghe, đồng bào sẽ có trách nhiệm cứu nước. Các cường lực quốc tế đang hiện diện ở Biển Đông sẽ quan tâm, nếu họ nhận thấy nguyện vọng của dân tộc ta phù họp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.

 

   Chúng tôi luôn tin tưởng ở hồn thiêng sông núi sẽ độ trì dân tộc. Theo thi hào Nguyễn Du: “Thác là thể phách, hồn là tinh anh”. Khi chết, xác thân trở về với cát bụi, nhưng anh linh những bậc tiền hiền, anh hùng liệt nữ, chết vì quốc gia dân tộc, sẽ quanh quẩn bên những đối tượng mà họ đã tận hiến cả cuộc đời. Đó là Non Sông Đất Nước, là Đồng bào chũng tộc. Ở bên kia thế giới, họ vẫn tiếp tục phù hộ đồng bào, đất nước như hoài bão lúc còn tại thế. Những anh linh đó trở thành một biểu tượng thiêng liêng mà người đời thường gọi là hồn thiêng sông núi.

 

Khát vọng độc lập của dân tộc và tham vọng thống trị của TQ 

 

   Từ khi lập quốc, tổ tiên ta luôn phải đương đầu với thảm họa bị “Hán hóa” bởi kẻ thù phương Bắc, có tham vọng bành trướng, muốn VN trở thành một bộ phận trực thuộc TQ. Trong hơn 1000 năm qua, dù đất nước đã độc lập tự chủ, nhưng các triều đại phong kiến vẫn còn chịu ảnh hưởng Trung Hoa qua việc nhận chiếc ấn An Nam Quốc Vương. Đây là hành động ngoại giao khôn khéo, để hòa hoãn với “thiên triều” hầu mở rộng lãnh thổ về phương Nam, tạo thế lực mạnh, mới có thể chấm dứt hoàn toàn ảnh hưởng phương Bắc. Nhưng chúng ta phải luôn ghi nhớ bài học lớn của Chiêm Thành và Chân Lạp: “Những người lãnh đạo chỉ vì tham vọng quyền lực cá nhân, luôn mưu tìm sự ủng hộ của ngoại bang, đã làm họ mất nước”.

 

   Do nhu cầu tồn tại và phát triển đất nước trong độc lập, tiền nhân đã từng bước mở rộng bờ cỏi đến tận cùng phương Nam, tiếp giáp biển cả ở mũi Cà Mau. Phía Đông và Nam của đất nước là Biển Đông. Đây là tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng nối liền Đông Bắc Á xuống Úc Châu tiếp giáp với Ấn Độ Dương tiến sang Trung Cận Đông, Châu Âu và Châu Phi. Sự giao dịch thương mãi giữa các nước trong vùng bao gồm các cường lực như Mỹ, Nga, Tàu, Ấn, Nhật, Úc…đều tùy thuộc vào hải lộ huyết mạch này. Biển Đông có trữ lượng lớn về dầu khí. Hiện các cường quốc trên cùng Anh và Pháp…đang cùng VN hợp tác dò tìm và khai thác nguồn tài nguyên phong phú này.

 

   VN có cảng Cam Ranh được coi là một trong những cảng tốt, thuận lợi và đẹp nhất của thế giới. Trong thời chiến tranh, HK đã chi gần 2 tỉ đô la để hiện đại hóa cảng này. Trong tương lai, cảng Cam Ranh với những dịch vụ lớn, sẽ góp phần phát triển đất nước phồn vinh. VN là trung tâm điểm của khối ASEAN, khối APEC và của khối Đông Á /Thái Bình Dương đang được HK hình thành với sự có mặt của Ấn Độ. Đây là sẽ khối mậu dịch lớn nhất của thế giới trong thế kỷ 21.

         

   Biển Đông là thế phát triển của đất nước, nhưng TQ tuyên bố vùng biển này thuộc chủ quyền của họ. Thế sống còn của đất nước phải tùy thuộc toàn diện vào TQ, qua khẩu hiệu “16 chữ” mà giới lãnh đạo hai nước đã đồng thuận: “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng về tương lai”.  Đây là đại họa của dân tộc. Trong hải ngoại tâm thư này, chúng tôi góp ý cùng đồng bào, qua những nhận định tình thế để tìm phương cách cứu nguy đất nước.

 

Ý Dân là Ý Trời

 

   Xưa nay mọi người đều tin tưởng như vậyvà khát vọng độc lập tự chủ, thoát khỏi ảnh hưởng TQ của dân tộc ta đã phù hợp với ý trời. Nhìn lại lịch sử trong hơn một thế kỷ qua, chúng ta sẽ thấy đất nước luôn được thế Thiên Thời để đẩy lùi ảnh hưởng TQ.Năm Quý Mùi 1883 khi thực dân Pháp đặt ách bảo hộ ở Bắc Kỳ, triều đình Mãn Thanh đưa quân sang VN phối họp với giặc Cờ Đen và quân triều đình Huế đánh phá quân Pháp. Sự can thiệp của Tàu bị Pháp dẹp tan, đưa đến Hiệp ước ký tại Thiên Tân ngày 11/5/1884 giữa Francois Fournier và Lý Hồng Chương: Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ. Tiếp theo là Hòa ước Giáp Thân ký ngày 6/6/1984 giữa Patenôtre, Đặc sứ Toàn quyền Pháp ở Trung Hoa và Lý Hồng Chương: xác nhận VN đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Ảnh hưởng phong kiến TH hoàn toàn chấm dứt ở VN. Chiếc ấn An Nam Quốc Vương của vua Càn Long gởi vua Gia Long năm 1803 đã bị hủy bỏ. VN sẽ độc lập hoàn toàn khi chủ nghĩa thực dân cáo chung.

 

   Sau khi Thế chiến II chấm dứt (1945) năm nước Đồng minh thắng trận, trở thành 5 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ là Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô và Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) đồng ý trao trả độc lập cho các thuộc địa. Phần đất Bắc vĩ tuyến 16 nằm trong mặt trận Hoa Nam của Tưởng Giới Thạch trong Thế chiến II, nên khi quân Tàu được Đồng Minh chỉ định vào giải giới Nhật, họ giúp những nhà cách mạng VN xây dựng chính quyền thân Trung Hoa. Lúc bấy giờ ông HCM đã thành lập Chính phủ lâm thời, nên đại diện Tưởng Giới Thạch là Tiêu Văn đề nghị ông HCM cải tổ chính phủ, dành nhiều bộ và chức vụ cho hai lực lượng cách mạng từ bên Tàu về là Việt Cách và Việt Quốc. Chính phủ Liên hiệp ra đời ngày 1/1/1946.

 

    Hai tháng sau, Jacques Meyrier -Đại sứ Pháp và Ngoại trưởng Trung Hoa Wang Shih Chieh ký Hiệp ước Trùng Khánh 28/2/1946: Pháp giao hoàn cho TH các lãnh thổ mà triều đình nhà Thanh đã nhường cho Pháp hồi thế kỷ trước như Thiên Tân, Hán Khẩu, Thượng Hải, Quảng Đông…. Đổi lại, quân Pháp sẽ thay quân TH ở bắc vĩ tuyến 16. Đầu tháng 3/1946, đại diện Pháp là Sainteny đến Hà Nội thảo luận việc thay quân TH và tương lai chính trị VN. Hai bên đã ký Thỏa ước 6/3/1946: Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Hai bên cam kết tiếp tục đàm phán để đi đến một hiệp ước chính thức trong vòng 5 năm. Việt Nam sẽ độc lập hoàn toàn cùng thời với Ấn Độ và Nam Dương vào cuối thập niên 1940.

 

Đại họa mất của dân tộc xuất phát từ đâu? 

 

    Ông Hồ Chí Minh không muốn VN được độc lập bằng con đường thương lượng hòa bình, vì lẽ ông là Ủy viên Quốc tế CS. Stalin chủ trương các nước thuộc địa phải chiến đấu chống thực dân đế quốc để giành độc lập, nghĩa là phải tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Vì thế, 9 tháng sau, ông HCM phát động “Toàn quốc kháng chiến”. Những người Quốc gia ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại đứng ra thương lượng hòa bình với Pháp. Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã cùng Cựu hoàng Bảo Đại ký Hiệp ước Elysée 8/3/1949: Pháp thừa nhận VN độc lập và thống nhất.

 

    Sáu tháng sau, Mao Trạch Đông chiến thắng ở Hoa Lục (1/10/1949). Ông HCM đến Bắc Kinh cầu viện CS Tàu để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuộc chiến xảy ra cùng lúc với chiến tranh lạnh giữa HK và LX. Hậu quả là đất nước bị chia đôi hồi tháng 7/1954. Sau đó, ông HCM phát động chiến tranh “Giải phóng MN” được LX, TQ và khối CS yểm trợ. HK can dự vào cuộc chiến, dội bom Miền Bắc và đưa quân vào Miền Nam để áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán, chấm dứt chiến tranh. Hiệp định hòa bình đã được ký kết tại Paris ngày 27/1/1973: nhân dân Miền Nam VN sẽ quyết định tương lai MN qua cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ.

 

    Chiến tranh VN được giải quyết êm đẹp, mang lại danh dự cho cả đôi bên, không có kẻ thắng, người bại. Sau đó, HK cùng LX thương thảo việc tài giảm binh bị, chấm dứt việc chạy đua vũ trang, đồng thời xúc tiến việc bình thường hóa bang giao với TC, nhằm tạo sự hợp tác quốc tế giữa ba cực lớn (HK, LX, TQ) để bảo vệ hòa bình thế giới. Điều bất hạnh cho dân tộc là CSVN buộc những người chủ trương hòa giải dân tộc phải đầu hàng và giải tán MTGPMN. Những người lãnh đạo Đảng CSVN tiếp tục con đường chống Đế quốc Mỹ, đưa cả nước vào quĩ đạo LX, đưa quân sang Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot thân Bắc Kinh.

 

    Đặng Tiểu Bình coi hành động này là phản bội TQ và tố cáo CSVN hợp tác với LX để thực hiện đường lối bá quyền. Đầu năm 1979, Đặng ký kết bang giao với Mỹ, lập thế liên minh: HK chống LX về mặt nhân quyền, TQ chống LX về mặt bá quyền. Ngay sau đó, TQ tấn công VN gọi là “dạy cho VN một bài học”. Tháng 7/1979, Hà Nội đưa ra một văn kiện ngoại giao, công bố “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”, tố cáo TQ trong thời gian từ 1949 đến 1979, đã “phản bội Việt Nam ba lần, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước!” Hiến pháp được sửa đổi, lên án đích danh “Bọn bá quyền TQ xâm lược” trong lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980.

 

     Lúc sinh thời, ông Hồ Chí Minh đã vun bồi tình hữu nghị với Đảng CS Trung Quốc, đối xử với nước CS đàn anh này “vừa là đồng chí, vừa là anh em, với lòng ưu ái thâm sâu, một lòng trung thành gương mẫu và một tình hữu nghị bền lâu”. Sau 30 năm gắn bó chặt chẽ, CSVN đã nhận chân được “chính sách của TQ là ích kỷ dân tộc” và “mục tiêu chiến lược là chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và chủ nghĩa bá quyền nước lớn”.  Đây là bài học lớn giúp VN có lý do để chấm dứt sự gắn bó với TQ.

 

      Năm 1949, CSVN đã nhờ TQ yểm trợ để chống Pháp Mỹ. Nay nước nhà đã thống nhất và thấy được dã tâm bành trướng của TQ, đáng lẽ CSVN phải quay về phục vụ dân tộc. Thiết lập bang giao với Mỹ, được HK viện trợ để hàn gắn vết thương chiến tranh; đồng thời củng cố mối thân hữu sẳn có với LX và TQ, thêm bạn bớt thù để phục hưng đất nước thời hậu chiến… Nhưng Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong diễn văn chào mừng Đại hội 26 Đảng CS Liên Xô 24/2/1981, đã tuyên bố “Chủ nghĩa xã hội ngày nay là vô địch. Hệ thống xã hội chủ nghĩa là không gì phá vỡ nổi. Không một âm mưu nham hiểm nào, không một hành động hung hãn nào của bọn đế quốc và tay sai có thể đảo ngược được tình thế đó”

 

    Đúng một thập niên sau (1991) không một đế quốc hoặc tay sai nào đảo ngược được tình thế…Nhưng chính nhân dân LX và Đông Âu đã phá vỡ, làm sụp đổ hệ thống XHCN, khiến CSVN mất chỗ dựa. Phải chăng đó là do cơ trời xui khiến? Hay là hậu quả tất yếu của một đường lối chính trị sai lầm? Có lẽ do cả hai kết hợp.

 

Sai lầm tái diễn, dẫn đến nguy cơ mất nước hiện nay

 

   Đảng CSLX sụp đổ, các nước CS Đông Âu đã thoát khỏi chủ nghĩa xã hội, trở thành những nước độc lập, dân chủ, tự do thực sự. Nhưng CSVN không theo gương đó, vẫn kiên trì đeo đuổi XHCN, nên quay về với kẻ cựu thù TQ để tìm chỗ dựa. Họ quên đi văn kiện Ngoại giao tháng 7/1979 trong đó có sao chụp hai bản đồ của TQ.

 

 – Bản đồ thứ nhất được in trong cuốn “Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại” xuất bản tại Bắc Kinh năm 1954. Bản đồ có lằng vẽ chấm là biên giới của TQ, trong đó có Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam, Miên và Lào ở phía Nam, là những lãnh thổ của TQ đã bị nước ngoài “chiếm mất” mà TQ phải tìm cách thu hồi.

 

 – Bản đồ thứ in năm 1973 trong tập “Bản đồ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Bản đồ này “vẽ đường biên giới TQ ở vùng biển phía Nam, chạy dọc bờ biển VN, vùng bắc Ca-li-man-tan của Ma-lai-xia và Phi-líp-pin”. Nói chung là toàn bộ khu vực hình lưỡi bò hiện nay.

   

    Mưu đồ của TQ giúp CSVN đánh đuổi Pháp Mỹ để VN trở thành thuộc địa và dùng VN làm bàn đạp để thống trị ĐNÁ, đã thất bại hoàn toàn. Từ 1990, CSVN quay về với TQ, cùng thực hiện Kinh tế thị trường, định hướng XHCN, cộng thêm tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhớ lại, hơn một thập niên trước, tại Đại hội 26 Đảng CSLX, ông Lê Duẩn đã tuyên bố “Đi theo con đường của Lê-nin, đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là đường lối bất di bất dịch của Đảng và nhà nước chúng tôi…Đảng Cộng Sản và nhân dân Việt Nam quyết mãi mãi nắm chắc ngọn cờ đoàn kết với Liên Xô mà đồng chí Hồ Chí Minh đã giương cao”. Nay giới lãnh đạo kế tiếp, lấy tư tưởng HCM để “hợp tác toàn diện” với TQ. Đây là cơ hội mới giúp TQ tái thực hiện mưu đồ “Hán hóa” VN.

 

   Ông Hồ đã an giấc ngàn thu từ 1969, ước mơ của ông sau khi chết là sẽ đi gặp Mác và Lê-nin. Ông đã nhận lãnh trách nhiệm của QTCS, giành độc lập cho VN bằng chiến tranh giải phóng dân tộc. Cuộc chiến kéo dài 23 năm từ 1946 đến ngày ông qua đời, vẫn còn mù mịt không biết đến ngày nào mới xong. Trong khi tất cả thuộc địa trên thế giới đều đã độc lập từ lâu, không tốn một giọt máu. Có lẽ vì vậy, ông muốn gặp Mác và Lê-nin để báo cáo sự việc đau buồn này. Khi VN xây dựng XHCN thì thiên đường XHCN sụp đổ ngay tại quê hương của Mác và Lê-nin. Rồi đây khi có một Viện bảo tàng về di sản lịch sử này. Xác ướp của ông sẽ được di chuyển về nằm bên cạnh xác ướp của Lê-nin và mộ phần của Mác. Hãy để người chết được yên nghĩ. Đừng để ông vướng mắc thêm sai lầm, khi ông đã mất.

 

   Sau cuộc họp thượng đỉnh ở Thành Đô tháng 9/1990, CSVN trở về “hợp tác toàn diện” với TQ, thực chất là “lệ thuộc toàn diện”. Cả hai nước “tuy hai mà một” đều do đảng CS lãnh đạo, lấy chủ thuyết Mác Lê Mao làm triết lý độc tôn. “Vô sản các nước đoàn kết lại” để tiến lên XHCN. TQ dự định trong 3 thập niên tới VN sẽ trở thành phần đất tự trị của TQ. Trong khi chờ đợi, biên giới trên bộ và vịnh Bắc Việt đã được triều đình Mãn Thanh và thực dân Pháp -đại diện cho VN ký năm 1887 đã phân định rõ ràng. Nay TQ áp lực VN ký hiệp ước mới năm 1999 và 2000 khiến VN mất nhiều đất và biển.

 

   TQ còn dựa vào công hàm 1958 của TT Phạm Văn Đồng để khẳng định Biển Đông bao gồm hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ. Bản đồ lãnh hải TQ ấn hành năm 1973 không thấy Hà Nội phủ nhận. Năm sau TQ đánh chiếm Hoàng Sa, CSVN cũng không lên tiếng phản đối. Mấy năm gần đây, TQ bắt đầu tung hoành ở Đông, tuyên bố đây là “vùng quyền lợi cốt lõi” của họ.

 

 – Đầu tháng 10/2009, hãng thông tấn VN loan báo: “16 tàu cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi – Việt Nam khi vào tránh bảo số 9 tại quần đảo Hoàng Sa đã bị nhân viên vũ trang của Trung Quốc ngăn chận không cho vào, sau khi bão tan ngư dân bị thu giữ tài sản, trang thiết bị”.

 

  – Sáng sớm ngày 26/5/2011, ba tàu hải giám TQ đã đi vào khu vực hải phận hoàn toàn thuộc chủ quyền VN của VN, chỉ cách bờ biển tỉnh Phú Yên khoảng 120 cây số. Và đã cắt các dây cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 02 thuộc Tổ họp Dầu khí quốc gia VN” (Petro VN). TQ bác bỏ lời phản kháng của VN. Họ cho rằng việc khai thác dầu khí của VN đã xâm phạm “chủ quyền của TQ tại Biển Đông mà hai bên đã đạt được về vấn đề này”.

 

 – Ngày 9/6/2011, tàu hải giám TQ đã lao vào cắt dây cáp tàu Viking 2 của Petro VN đang thăm dò đáy biển trong vùng biển thuộc thẩm quyền VN. Những hành động gây hấn trên đã khơi động lòng yêu nước của nhân dân, đồng bào đã liên tiếp xuống biểu tình lên án hành động xâm lược của TQ.

 

 – Tháng 9 mới đây, TQ gởi công hàm ngoại giao cảnh báo Ấn Độ, nếu không được phép của TQ thì các hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Ongc Videsh Ltd (OVL) của Ấn tại các lô dầu 127 và 128 là bất hợp pháp. Ấn Độ trả lời, việc ngăn cản của TQ là “không có cơ sở pháp lý” vì đây là khu vực độc quyền kinh tế của VN.

 

Biến động Biển Đông: Thời cơ thuận lợi giúp dân tộc hồi sinh

 

   Sau hơn 40 năm vắng bóng, tháng 7/2009, Ngoại trưởng HK, bà Hillary Clinton đến Thái Lan ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với các nước ASEAN. Bà tuyên bố “Tôi muốn gởi một thông điệp rõ ràng là Hoa Kỳ đã trở lại”. HK trở lại Đông Nam Á trong thời điểm biển Đông trở nên sôi động, khi TQ tuyên bố Biển Đông là “vùng quyền lợi cốt lõi” của họ. Từ tháng 3/2010 TQ mở các cuộc tập trận hải quân ở biển Đông, kéo dài đến tận eo biển Malacca và thực tập oanh tạc các mục tiêu trong khu vực quần đảo Trường Sa.

 

   Trước sự “diệu võ dương oai” của TQ, trong Hội nghị Diễn đàn ASEAN (ARF) tại Hà Nội ngày 23/7/2010, bà Hillary Clinton tuyên bố: Mỹ chống lại bất cứ quốc gia nào xữ dụng vũ lực ở biển Đông, vì lẽ HK cũng như các quốc gia khác có quyền lợi thiết yếu về tự do lưu thông trên các thủy lộ và tôn trọng luật pháp ở biển Đông. HK ủng hộ việc quốc tế hóa các tranh chấp về hải phận và ủng hộ các nước muốn giải quyết việc tranh chấp bằng thương thuyết dựa trên cơ sở Công ước của LHQ về luật Biển. Sau đó HK đưa Hàng không mẫu hạm nguyên tử George Washington đến biển Đông tham gia tập trận với các nước trong khu vực.

 

    Ổn định tình hình biển Đông là mục tiêu chủ yếu của HK nhằm thực hiện chiến lược An ninh Châu Á/Thái Bình Dương. An ninh là điều kiện cần thiết của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á/TBD (APEC). Đây là “chiến lược can dự trở lại” của HK, lần này có sự tham gia của Ấn Độ. APEC sẽ là khu vực mậu dịch phát triển lớn nhất thế giới trong thế kỷ 21.

 

   Để thực hiện chiến lược trên, trước tiên HK trở lại biển Đông để “cân bằng thế lực’ với TQ, sau đó biến thành “một bên can dự” trong các đối tác tại Châu Á/TBD. Chính quyền Obama lấy việc xiễn dương giá trị nhân quyền, dân chủ của Mỹ để làm lợi khí và dùng phương thức ngoại giao để thực hiện sự đối thoại và hợp tác. Ngoài hiệp ước an ninh với Nhật, Đại Hàn, Phi Luật Tân…HK còn tăng cường quan hệ với các nước chủ chốt khác như tiến hành đối thoại chiến lược với Ấn Độ, triển khai đối thoại chiến lược & kinh tế với TQ, xây dựng quan hệ đối tác toàn diện với Nam Dương. Ngoài ra HK còn tăng cường quan hệ với các đối tác mới như VN hoặc đối tác lâu đời như Singapore.

 

    Ngoài đối thoại song phương vừa kể, HK tiếp tục triển khai đối thoại chiến lược ba bên giữa Mỹ với Úc và Nhật; giữa Mỹ với Nhật và Đại Hàn. HK còn xây dựng đối thoại ba bên giữa Mỹ với TQ và Nhật; giữa Mỹ với Nhật và Ấn. Đồng thời tích cực phát triển mối quan hệ với các nước thuộc lưu vực sông Mê Kông. Từ đó hình thành cơ chế an ninh Á Châu/TBD vì mục tiêu hợp tác phát triển kinh tế, đồng thời cũng để phân hóa, kềm chế TQ phải có trách nhiệm đối với lợi ích chung của khu vực. Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu mối liên hệ giữa HK với VN; giữa VN với TQ và TQ với HK là cần thiết để tìm cách giải nạn cho dân tộc.

 

Liên hệ HK và VN: Hiện nay, HK hợp tác quốc phòng với VN cũng như các đối tác khác, chỉ vì chiến lược an ninh khu vực. HK không can dự vào những tranh chấp ở biển Đông giữa TQ và VN. Tuy nhiên trong hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi đầu tháng 6/2008, TT George W. Bush tuyên bố một cách vắn tắt mơ hồ, HK xác nhận nguyên tắc tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của VN. Đây không phải là điều mới mẽ, ông Bush chỉ lập lại Điều 1 của HĐ Paris 1973 “HK và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước VN như HĐ Genève 1954 về VN đã công nhận”.

 

    HK chỉ cần VN đáp ứng một cách cụ thể, VN sẽ thi hành Điều 9 của HĐ Paris 1973, trong đó VN “cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân MNVN, thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do, dân chủ, có giám sát quốc tế”. Điều khoản này dành cho nhân dân MNVN, nhưng nay đất nước đã thống nhất, CSVN phải tôn trọng quyền tự quyết của toàn dân VN. Và Điều 11: “bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và tự do kinh doanh”.

 

   Với đáp ứng trên, chiến tranh VN mới thực sự chấm dứt. Để “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ” VN sẽ ký kết Hiệp ước An ninh với HK, tương tự như Phi Luật Tân và Nhật Bản đã ký Hiệp ước An ninh với Mỹ. Liệu TQ có phản đối hay không? Chúng tôi tin là không. Vì lẽ Hiệp ước An ninh chỉ để bảo vệ VN, Nhật hoặc Phi mà thôi, chớ các nước này không gây chiến với nước nào cả. Vã lại, trước khi có cuộc họp giữa TT Nguyễn Tấn Dũng và TT George W, Bush (đầu tháng 6/2008) một phái đoàn lãnh đạo cao cấp VN do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh dẫn đầu sang thăm TQ (cuối tháng 5/2008). Trong phần nhập đề của bản Thông cáo chung đã xác định một nguyên tắc rất quan trọng: TQ cũng như VN có quyền tùy theo hoàn cảnh đặc thù của nước mình, chọn một đường lối riêng để tiến tới đích chung là thực hiện một xã hội xã hội chủ nghĩa.

 

Thực chất mối bang giao VN và TQ: Mục tiêu của TQ giúp CSVN chống Pháp để giành ảnh hưởng ở VN, làm bàn đạp tiến xuống ĐNÁ đã bị HK chận đứng với sự thành lập Liên phòng ĐNÁ (SEATO). Bắc Kinh liền chuyển đổi mục tiêu, ủng hộ CSVN chống Mỹ để tạo ảnh hưởng TQ trên chính trường quốc tế. Năm 1954, được sự đồng ý của HK, TQ được mời tham dự Hội nghị Genève cùng với 4 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ.

 

   Khi HK trực tiếp can dự vào cuộc chiến VN, TQ giương ngọn cờ độc lập dân tộc, chống cả hai siêu cường Nga Mỹ có âm mưu nô dịch nhân dân thế giới. Lúc bấy giờ HK tìm cách giải quyết chiến tranh VN bằng biện pháp hòa giải ba bên Miền Nam VN. Do đó HK không dùng quyền phủ quyết, giúp TQ gia nhập LHQ, trở thành ủy viên thường trực HĐBA. Từ đó, TT Nixon đi tìm sự kết hợp với LX và TQ) để kết thúc chiến tranh VN.

 

   Sau khi VN ký Hiệp ước hợp tác toàn toàn với LX, đầu năm 1979 TQ thiết lập bang giao với Mỹ. Từ đó, họ công kích LX về mặt bá quyền, đồng thời thực hiện “Bốn hiện đại hóa” và xây dựng nền kinh tế thị trường. Nhờ hợp tác chặt chẽ với Thế giới Tự do, nên TQ được HK, Nhật Bản và Tây Âu yểm trợ, giúp TQ từng bước trở thành một cường quốc kinh tế, chỉ đứng sau HK.  

 

   Từ 1990, VN trở về hợp tác toàn diện với TQ, nay biển Đông bị TQ khống chế, bịt đường tiến của dân tộc. VN sẽ phải lệ thuộc toàn diện vào TQ…Nhưng đồng bào trong ngoài nước đã xuống đường biểu tình phản đối TQ. Giờ đây, VN chỉ còn cách theo gương TQ, hợp tác và nhận sự giúp đỡ của HK để phát triển. Đó là xu thế chung, không riêng gì TQ mà hầu như các nước khác đều chấp nhận vì lẽ HK là siêu cường quốc có một thể chế dân chủ tự do hoàn hảo, với Tuyên ngôn Độc lập xác định “Quyền hành của chính phủ phải được giới hạn chặt chẽ bởi những quyền bất diệt của nhân dân”.

 

Liên hệ TQ và HK: Nhờ hợp tác với HK trong 30 năm qua, TQ có được vị trí chủ chốt ngày hôm nay. Nếu TQ tiếp tục khống chế Biển Đông, vẻ ra “bản đồ lưỡi bò”, coi đây là “quyền lợi cốt lõi” của mình…Hành động này đã phá hoại nổ lực chung của HK và các cường lực khác, muốn xây dựng một cơ chế hợp tác và phát triển kinh tế giữa các nước trong khu vực. Liệu Hải quân TQ có khả năng đánh bại Hạm đội 7 HK và đủ sức đối đầu với liên minh Ấn-Nhật-Úc-Mỹ và các đồng minh hay không? Có lẽ TQ chỉ còn con đường tiếp tục hợp tác với HK và phải cải tổ thể chế chính trị, mới mong duy trì địa vị của mình ở Châu Á/TBD trong thế kỷ 21.   

 

Kính thưa Đồng bào,

 

    Đất nước hiện nay đã có thế Thiên thời và Địa lợi, chỉ cần yếu tố Nhân hòa. Tương lai dân tộc, tùy thuộc sự suy tư và hành xử của đồng bào và Đảng CSVN. Xin nhắc lại, từ đầu thập niên 1920, ông Hồ Chí Minh đã đặt sự tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác-Lê. Một chủ nghĩa còn quá mới mẻ, chưa được kiểm chứng về sự toàn thiện và đáng tin cậy của nó, nhưng ông Hồ vội coi đó như là khuôn vàng thước ngọc mà cách mạng VN phải theo. Ông còn đem vận mạng dân tộc cột chặt vào LX và thề trung thành mãi mãi với sự liên kết đó. Đảng CS Đông Dương vừa được thành lập, liền phát động Phong trào Sô Viết Nghệ Tĩnh (1931) đã làm đồng bào kinh hoàng CS vì khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào – Cào tận gốc, trốc tận rễ”.

 

   Khi Thế chiến II chấm dứt, các cường quốc thắng trận đề ra chủ trương “giải trừ chế độ thực dân”. Đảng CSĐD không còn hữu dụng trong tình thế mới, phải tuyên bố tự giải tán. Nhưng 6 năm sau, với sự ủng hộ của CSTQ, đảng CSĐD hoạt động trở lại với danh xưng Đảng Lao Động VN. Tư tưởng Mao được ghi vào điều lệ của đảng, và cuộc Cải cách ruộng đất do cố vấn TQ hướng dẫn, đã phá nát xã hội truyền thống dân tộc. Tiếp theo là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, CSVN bị TQ lợi dụng triệt để nhằm phục vụ quyền lợi dân tộc của họ. Khi tiến lên xã hội chủ nghĩa thì LX và cả hệ thống XHCN thế giới tan rã. Trở lại hợp tác với TQ thì bị TQ bịt đường tiến ra biển Đông là tương lai của dân tộc trong thế kỷ 21 này.

 

    Trong thế bế tắc đó, Đại hội XI Đảng CSVN hồi (năm 2011) vẫn kiên trì đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa…Nhưng cho biết “đã có một sửa đổi quan trọng về đặc trưng cơ bản của CNXH. Dự thảo cương lĩnh Đại hội đề ra: CNXH “dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất”, được sửa đổi “dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” được Đại hội thông qua với 895 phiếu đồng ý (65%).“Quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” là một ý niệm mơ hồ. Phải chăng đó là mô hình kinh tế của các nước dân chủ tự do trong nhóm “thất cường” kinh tế? (Đức, Ý, Nhật, Anh, Pháp, Mỹ và Gia Nã Đại)

 

    Chủ nghĩa CS đã cáo chung ở nơi đã sản sinh ra nó và hoàn toàn không phù hợp với xã hội VN từ khi được du nhập vào nước ta…Nhưng xã hội xã hội chủ nghĩa là một lý tưởng cao đẹp, trong đó không có cảnh người bốc lột người, mọi người đều tự do bình đẳng, cùng có chung mục tiêu vì phúc lợi, an sinh xã hội. Ý tưởng này phát triển từ thế kỷ 18 trong giai đoạn Cách mạng khoa học kỹ nghệ, chủ nghĩa tư bản ra đời… Cùng với cuộc Cách mạng chính trị dân chủ do những tư tưởng cấp tiến của những nhà chính trị xã hội Pháp như Voltaire, Montesquieu, Jean J. Rousseau và nhất là ảnh hưởng của Cách mạng 1776 ở HK.

 

   Karl Kautsky (1850-1938) lãnh tụ đảng Dân chủ Xã hội Đức chủ trương: “Kết hợp cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với nền chính trị dân chủ của các nước văn minh tiến bộ, coi con đường tiến tới quyền lực phải bắt buộc thông qua các cuộc bầu cử”. Kautsky đã cùng Karl Marx (1818-1883) thảo bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848. Marx thành lập Quốc tế I năm 1866, hô hào giai cấp công nhân đoàn kết và nổi dậy thành lập nhà nước vô sản. Công xã Paris 1871 bị thất bại nặng nề, Quốc tế I cáo chung. Kautsky cũng là bạn thân của Frederick Engels (1820-1895) lãnh tụ Quốc tế II thành lập năm 1889, sau khi chứng minh sự lỗi thời của học thuyết Marx, không còn phù hợp với tình hình xã hội mỗi ngày có sự thay đổi lớn. Kautsky cực lực phản đối chủ trương Cách mạng bạo lực và Quốc tế III của Lenin. Ông lên án chế độ độc tài do Lenin thành lập ở Nga sau Cách mạng Tháng 10 (1917) là “Sản phẩm của một quốc gia chậm tiến không có truyền thống dân chủ”.

 

   Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI và Đại biểu Quốc hội đương nhiệm, đại đa số không dự phần trách nhiệm vì những lỗi lầm của những người lãnh đạo tiền nhiệm. Tuy nhiên, nếu vì lý tưởng XHCN, vì quốc gia dân tộc, quý vị hãy tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa với nền chính trị dân chủ, chớ không phải độc tài chuyên chính của Mác Lê-nin. Chúng tôi kỳ vọng, Đảng CSVN sẽ thực hiện trọn vẹn cương lĩnh Đại hội XI. Trước hết, “công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất” một cách triệt để như đã làm ở Miền Bắc sau 1954 và Miền Nam sau 1975, để san bằng bớt bất công xã hội. Sau đó thực hiện chế độ tư hữu toàn dân.

 

    Chủ nghĩa CS Quốc tế đã cáo chung từ lâu. Ngày nay thảm họa của dân tộc xuất phát từ tham vọng bành trướng của người đồng chí vĩ đại của CSVN. Đã đến lúc, Đảng CSVN bày tỏ sự hối tiếc và nhận lỗi lầm với đồng bào. Thái độ thành khẩn nhất là giải tán Đảng CS, thành lập chính đảng mới, Dân chủ Xã hội chẳng hạn như các nước CS Đông Âu sau khi LX sụp đổ. Chính đảng mới thay thế Đảng CSVN hợp lực với các lực lượng đấu tranh cho dân chủ tự do và nhân quyền, thành lập một chính quyền chuyển tiếp, đứng ra tổ chức cuộc tổng tuyển cử tự do.

 

   Đồng bào quốc nội, với “quyền tự quyết thiêng liêng bất khả xâm phạm” mà các cường quốc đã long trọng thừa nhận trong hội nghị quốc tế về VN tháng Hai năm 1973, mới có thể đưa Đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay. Và quyết định tương lai dân tộc trên con đường thẳng tiến đến đỉnh cao huy hoàng của Tổ quốc. Đó là phần thưởng danh dự dành cho những đứa con Việt Nam đã âm thầm chịu đựng trong bước ngoặc dài trước khi lịch sử sang trang.

 

Trân trọng kính chào Đồng bào, 

 

Hải ngoại ngày 15 tháng Chín năm Tân Mão (11/10/2011)

Kính thư, 

 

Lê Quế Lâm        

 

 

Tài liệu 2:

Từ bức thư ngỏ của 36 nhân sĩ hải ngoại

tới bức tâm thư của học giả Lê Quế Lâm

Vũ Quốc Thúc

                         

Bức thư ngỏ đề ngày 31 tháng 8 năm 2011 của 36 nhân sĩ hải ngoại, gửi cấp lãnh đạo chính quyền đương thời ở quốc nội, đã gây nên một cuộc tranh luận rộng rãi và sôi nổi. Khỏi cần nói là tính chất bất ngờ của “biến cố truyền thông” này đã khiến nhiều người thắc mắc. Với tư cách là người được mời đầu tiên để góp ý cũng như ký tên trong thư ngỏ -có lẽ vì mình cao tuổi nhất- tôi nhận định mấy điểm sau đây.

 

Điểm 1 – Mặc dù G.S. Lê Xuân Khoa đã đích thân liên lạc với tôi ngay từ lúc bức thư ngỏ mới dự thảo, tôi vẫn tự hỏi: Sáng kiến này xuất phát từ đâu?

 

Dĩ nhiên không phải từ Bắc Kinh vì những đề nghị trong thư là để đối phó với xu hướng bành trướng bá quyền của Trung Quốc. Từ Hà Nội? Chắc không phải vì thư ngỏ công khai yểm trợ những người đang đối đầu với nhà đương quyền. Còn chủ trương rằng một phe nào đó trong Đảng Cộng Sản Việt Nam muốn mớm lời cho những tác giả bức thư ngỏ: giả thuyết này chưa hề được chứng minh. Điều mà ai nấy thấy rõ là ngay từ ngày 31/8/2011, các cơ quan truyền thông danh tiếng của Tây Phương như BBC, World Bank Net, R.F.A., R F I, VOA… đã loan tin và phân tích nội dung cùng phỏng vấn một số nhân vật đã ký tên trong Thư ngỏ. Như vậy ta có thể tin rằng: sáng kiến xuất phát từ phía Tây Phương. Mục đích có thể là để tiến dần tới một nền trật tự quốc tế trong vùng Đông Nam Á trước tình hình ngày càng căng thẳng trong vùng này.

 

 Nội dung và hình thức của nền trật tự ấy chưa ai biết rõ nhưng có một điều mà chúng tôi mong mỏi từ nhiều năm nay là nước Việt Nam sẽ giữ một vị thế trung lập tương tự như Áo Quốc (Austria) ở Âu Châu sau Thế chiến 2. Gần đây, một chuyên gia về ngành học Bang Giao Quốc Tế , Ông Ngô Văn Tuấn, từng cộng tác với Ban Ngoại Giao của Ủy Hội Âu Châu và vẫn cư ngụ tại Hoà Lan, có viết một bài bình luận về vụ Thư Ngỏ của 36 nhân sĩ Việt Nam Hải Ngoại. Trong bài này Ông nhận định là nhà đương quyền Việt Nam đang áp dụng một sách lược ngoại giao rập theo khuôn mẫu Trung Lập Vĩnh Viễn. Bài bình luận của Ông Ngô Văn Tuấn công bố đúng lúc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chính thức công du Hoà Lan. Phải chăng đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay diễn tiến của một kịch bản soạn trước? Dầu sao, người ta có lý do để hoài nghi sách lược trung lập này nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục nắm độc quyền chính trị như đã được ấn định trong Hiến Pháp năm 1992. Tại sao?

 

Chính vì từ năm 1990 Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cam kết theo đúng đường lối của Đảng Cộng Sản Trung Hoa mà Đảng này thì nắm độc quyền chính trị ở Trung Quốc, như vậy nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm gì có quyền theo đuổi một chính sách đối ngoại trái ngược với quyền lợi của Trung Quốc? Lý do này khiến một số người chủ trương: việc cần làm trước tiên là phải lật đổ nền độc tài cộng sản hiện thời để thiết lập một thể chế thật sự dân chủ và pháp trị. Lật đổ bằng cách nào? Người ta nghĩ ngay tới phong trào cách mạng hoa nhài đang lan tràn ở các nước Á Rập.

 

Điểm 2 –Bức thư ngỏ của 36 nhân sĩ Việt Nam Hải Ngoại có liên hệ gì với phong trào cách mạng hoa nhài không?

 

Dựa trên những tin tức và hình ảnh được phát tán rộng rãi qua các cơ quan truyền thông ta có quyền tin rằng nguyên nhân chính của phong trào cách mạng này là tâm trạng bất mãn của nhân dân – đa số thuộc tầng lớp trẻ – trước những tệ đoan như: bất công xã hội, bất bình đẳng sâu xa giữa thiểu số giàu sang và quảng đại quần chúng, tòa án hoàn toàn lệ thuộc chính quyền, còn chính quyền thì độc đoán, bè phái, tham nhũng…Những người bất mãn không còn cách nào khác là dùng sức mạnh của đám đông để lật đổ kẻ đương quyền. Những hiện tượng tiêu cực vừa kể đều có ở quốc nội Việt Nam: như vậy một cuộc cách mạng kiểu hoa nhài có nhiều khả năng bùng nổ. Dĩ nhiên, trong nhóm đảng viên Cộng Sản đương cầm quyền, có những phần tử ngoan cố chủ trương phải đàn áp mọi mưu toan chống đối. Tuy nhiên cũng có những phần tử sáng suốt hơn chủ trương cải cách thể chế ngay từ bây giờ đểsự bất mãn của nhân dân không đưa tới bạo loạn. Một số người can đảm đã công khai đưa kiến nghị hay thỉnh nguyện thư lên cấp lãnh đạo. Khỏi cần nói, chính quyền đương nhiệm cố gắng bịt miệng những người này, cô lập họ đối với đại chúng, không để cho họ được tiếp xúc với các cơ quan truyền thông, nhất là với những người có đôi chút uy tín ở hải ngoại. 

 

Chính vì nhận rõ tình trạng này mà các tác giả bức thư ngỏ cảm thấy có bổn phận lên tiếng để yểm trợ những người đang can đảm tranh đấu ở quốc nội. Gửi thư ngỏ cho cấp lãnh đạo đương quyền là chính thức cảnh giác nhóm lãnh đạo này về trách nhiệm lịch sử của họ. Nếu họ sớm tỉnh ngộ, biết đưa ra những biện pháp cải cách phù hợp với xu hướng tiến hóa của thế giới hiện đại, thì họ có thể tránh cho đất nước những sự mất mát, đổ vỡ, rối loạn… như ta đang chứng kiến ở một số quốc gia vùng Bắc Phi và Trung Đông .

 

Dĩ nhiên, những tác giả bức Thư ngỏ không hy vọng hảo huyền là đề nghị của mình sẽ được chính quyền đương nhiệm chấp thuận trong thời gian trước mắt: phản ứng thông thường của những kẻ độc tài là phớt lờ để cho mọi sự phản đối chìm dần vào quên lãng. Ta nên làm gì để đối phó với thái độ phớt lờ này?

 

Điểm 3 – Vận động quần chúng  trong nước .

 

Gửi thư ngỏ cho cấp lãnh đạo đương quyền chỉ là một hành động khơi mào. Trong một bài bình luận thời cuộc công bố năm 2008 dưới tựa đề Một cuộc cách mạng nhung có thể xẩy ra ở Việt Nam không ? Chúng tôi đã nhận định là vũ khí hữu hiệu nhất của những kẻ đối lập, dưới các chế độ độc tài, là sử dụng tối đa các kỹ thuật và phương tiện truyền thông hiện đại. Kèm theo đó là phải phát động một phong trào bất tuân dân sự để gây sức ép với kẻ cầm quyền. Nói cách khác , phải mở một cuộc chiến tâm lý đại quy mô và mạnh mẽ, hướng vào nhân dân. Chính vì thế mà tôi thấy bức tâm thư gửi đồng bào của học giả Lê Quế Lâm là một hành động dũng lực .

 

Tôi được biết Ông Lê Quế Lâm sau khi Ông xuất bản cuốn sách Việt Nam: thắng và bại (Nhà xuất bản Ngoc Thu – Sydney 1993). Đó là một cuốn sử về “cuộc chiến tranh Việt Nam”, viết rất công phu, dựa trên nhiều tài liệu mà chỉ một học giả làm việc trong một cơ quan nghiên cứu đặc biệt mới có vào thời điểm ấy. Cuốn sách được trình bày rất khoa học theo đúng quy tắc hàn lâm, khiến tôi thành thật tán thưởng. Điều khiến tôi khâm phục nhất là tinh thần khách quan của tác giả, khi ông viết về những sự kiện thường  làm cho người ta hăng say, cơ hồ trở nên thiên lệch, bất công. Trong bức tâm thư kèm đây ông đã viết với tư cách một công dân tha thiết tương lai của đất nước, nhiệt thành mong quê hương sớm ra khỏi tình trạng hiểm nghèo hiện thời để theo kịp đà tiến hóa của thế giới văn minh ./.  

         

VŨ QUỐC THÚC

 

Advertisements

About Thiên Hạ Sự

Trang mạng lập nên để phản bác mọi xuyên tạc sự thật trong cộng đồng hải ngoại và nội địa Việt Nam
Bài này đã được đăng trong Bình Luận. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Vài nhận xét về “Hải Ngoại Tâm Thư Gửi Đồng Bào”

  1. nguyenvn89 nói:

    Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang là người theo đạo Thiên Chúa La Mã, ông đã từng du học ở Mỹ và phục vụ trong ngành giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã nghiên cứu sử đã nhiều năm và có thể nói ông là Giáo sư sử, những thông tin của ông đưa ra là rất chính xác. Ông nghiên cứu rất kỹ Vatican và biết rất rõ về lịch sử Việt Nam. Mặc dù ông theo đạo Thiên Chúa La Mã nhưng ông vạch mặt Vatican, có lẽ ông biết mưu đồ của Vatican là chỉ biết lợi dụng giáo dân để làm việc cho mình.
    Qua nhận xét phản biện của Giáo sư độc giả sẽ hiểu biết hơn về lịch sử Việt Nam và đặc biệt là người Việt ở các cộng đồng hải ngoại biết rõ hơn bộ mặt thật của những “Học giả” nên “Viết bậy”, viết sai để bóp méo sự thật, vu khống chụp mũ để reo rao “cái nghề” chống Cộng.

    Số lượt thích

  2. nguyenvn89 nói:

    Để các độc giả tiện đánh giá trình độ của người viết và nội dung của “HẢI NGOẠI TÂM THƯ GỬI ĐỒNG BÀO”CỦA ÔNG LÊ QUẾ LÂM. Toàn bộ nội dung của tâm thư của ông Lâm “học giả” (theo Võ Quốc Thúc) đã được Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang “chấm”tôi cố một thống kê như sau:
    I/ Tổng số nội dung: 41
    Các nội dung được chấm:
    – Sai: có 09 nội dung sai;
    – Dốt: có 02 ”;
    – Ngây thơ: 03;
    – Láo và vu khống: 03;
    – Hợm hĩnh: 01;
    – Không có tinh thần dân tộc: 01;
    – Chụp mũ (đội nhầm mũ): 01;
    – Có 21 nội dung không đúng hoặc nhận định sự việc không đúng, GS Quang phải nêu và chứng minh lại, và giải thích thêm.
    II/ Nếu chấm điểm trắc nghiệm, châm chức lắm thì được 2 điểm/41 điểm.

    Bà con mình ở hải ngoại tự suy ngẫm nhé!

    Số lượt thích

  3. chau kinh chao bac nguyen manh quang. cam on bac da cho tuoi tre nhu chung chau doc duoc bai nay..that la quy bau vo cung…chuc bac suc khoe doi dao..

    Số lượt thích

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s