Kính thưa quý vị lãnh đạo nhà nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghiã Việt Nam,
Kính thưa quý vị đại biểu kiều bào khắp nơi,
Kính thưa quý vị lãnh đạo và ban tổ chức Nghị Hội Việt Kiều lần thứ hai,

 

Nguyễn Phương Hùng – Nov. 29, 2012, 10:10 a.m.

http://www.youtube.com/watch?v=fCRNUguXq2I

 

Lời nói đầu tiên cuả tôi xin chân thành gửi đến quý vị những lời chào mừng nồng nhiệt đến tất cả những người đã may mắn có cơ hội hiện diện nơi đây trong tụ điểm ngày Nghị Hội Việt Kiều năm 2012. Chúng ta từ muôn dặm nẻo đường cuả thế giới đã không hẹn cùng nhau để tụ hội dưới mái hội trường này ngày hôm nay. Tôi xin được mượn câu châm ngôn cuả người La Mã để ví von cho một chút tươi thắm trong bài tham luận đầy khô khan này: “Tất cả mọi nẻo đường trên thế giới đều dẫn đến thành phố Hồ Chí Minh.” Vâng ngày hôm nay chúng ta dù không quen biết, không hẹn hò với nhau bỗng nhiên tay bắt mặt mừng, người người như một, từ khắp các nẻo đường thế giới tụ họp về đây và gặp nhau trong không khí tươi vui rạng rỡ sau một chuỗi liên tục những ngày vui cuả đất nước như: 37 năm thống nhất đất nước, Ngày 1 tháng 5, ngày Cách Mạng Mùa Thu, và gần đây nhất là Ngày lễ Độc Lập 2 tháng 9.   
 
Thật là một sự bất ngờ cho tôi, một người đã chối bỏ quê hương 36 năm và miền Bắc 57 năm được mời đóng góp bài tham luận trong ngày hôm nay. Thật là một xúc động đầy những tình cảm thiêng liêng mà Nghị Hội đã dành cho tôi. Một người con bất hiếu đã rời xa quê hương lang thang về phương trời vô định nơi đất khách quê người, ngày hôm nay lại được vinh dự đến tham dự hội nghị và đứng trên đây đọc một bài tham luận mà trong đời tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Tôi không nghĩ rằng mình xứng đáng được hiện diện nơi đây, đừng nói chi đến đọc bài tham luận. Trước mặt tôi đang có rất nhiều người nổi danh trên thế giới và thành công mọi mặt xứng đáng hơn tôi để đứng trên đây. Tôi chỉ là một nhà báo rất tầm thường và không nổi tiếng với một quá khứ là một người kỹ sư điện toán cũng tầm thường. Tôi chuyên về lập trình các thảo chương trên máy điện toán khổng lồ IBM và đã về hưu cách đây 5 năm. Truyền thông với tôi chỉ là một nghề tay trái và mới hoạt động toàn thời gian từ sau ngày nghỉ hưu trí.
 
Là một người say mê làm việc và hoạt động xã hội, chính trị thì việc ngồi không rảnh rỗi không phải là một môi trường thích hợp cho bản tính năng động; cho nên tôi đã dồn nhiều thì giờ vào công việc truyền thông mạng. Làm báo giấy tại hải ngoại là một gánh nặng về in ấn và thị trường quảng cáo eo hẹp cho nên tôi chọn làm báo mạng cho nhẹ bớt chi phí. Báo mạng là  một phương thức chuyển tải thông tin theo kỹ thuật tin học nhanh chóng có thể cập nhật từng giờ, từng phút. Và với một khả năng viết lách bằng lối viết mạnh dạn dám ăn – dám nói – dám làm trong chủ trương người thật – việc thật và hành động nói thẳng – nói thật và nói hết, trang mạng KBCHN.net cuả tôi đã chinh phục được số đông độc giả người Việt tại nước ngoài nhất là Hoa Kỳ. Số người đọc tại nước ngoài đông vượt gấp đôi trang mạng Việt Ngữ cao nhất hiện nay là tờ Người Việt Online. KBCHN.net đã đồng hành cùng Việt Weekly, PhoBolsaTV, Tiếng Quê Hương, Hướng Việt và Thanh Niên Sinh Viên California để mang lại những sự thật cả hải ngoại lẫn quốc nội.
 
Tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên năm 2011 khi nhận lời cuả nhà nước Việt Nam về tham dự Đại Hội Truyền Thông Báo Chí với chủ đề “Bảo Tồn Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam – Giữ Gìn Tiếng Việt” vào tháng 9. Là một người làm truyền thông và đặt quyền lợi đất nước lên hàng đầu tôi rất vui vẻ không ngần ngại nhận lời tham dự hầu mong đóng góp những gì mình có thể góp vào cái “Bản Sắc” và sự “Bảo Tồn” này. Nhưng không ai ngờ được một chuyến đi, mà tôi cho là lịch sử trong cuộc đời cuả tôi đã đảo lộn tất cả những ý nghĩ và thành kiến về một nước Việt Nam từ sau ngày Thống Nhất đất nước. Nói theo cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì tôi đã 36 năm qua “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt?”
 
Vâng kính thưa quý vị,
 
Quả thật tôi đã “bao nhiêu nhiêu năm rồi mình đã ra đi”. Tôi thật sự mỏi mệt vì những chuyến dấn thân vô lý và mất thì giờ vào các cuộc tập họp đấu tranh tại hải ngoại. Một sự may mắn khi bỏ nước ra đi, tôi được đặt chân tạm cư tại Mỹ quốc, một đệ nhất cường quốc cuả thế giới trên nhiều phương diện. Là một cựu học sinh môn toán, tôi đã chọn cho mình một ngành chuyên môn đang phát triển tại Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Theo lời khuyên cuả cố vấn giáo dục, cộng thêm một chút căn bản Anh ngữ đủ để hiểu “Who are you?” và biết trả lời “I am fine” tôi quyết định chọn theo học ngành lập trình điện toán. Trong công việc, tôi tham dự nhiều chương trình kỹ thuật tối tân phát minh vũ khí cuả Hoa Kỳ (đa số các công ty tôi làm việc đều gắn liền đến những chương trình phát triển vũ khí như Hughes Aircraft, TRW, Boeing, Northrop, General Dynamics …) nên có lẽ tôi thuộc loại người tạm có một phần nào thông minh. Vậy mà dù có sự thông minh trong trí tuệ cũng như nắm bắt kỹ thuật điện toán từ những thập niên 1975 – 1985 cho đến thời gian sau này thì tôi lại vẫn là người đui mù về tin tức tại Việt Nam.
 
Bất cứ một lỗi lầm cũng có lý do để bào chữa, nhưng trước hết tiên trách kỷ hậu trách nhân. Sự mù tịt tình hình Việt Nam phải được ghi nhận lỗi từ cá nhân tôi. Là một người sinh hoạt chính trị và có những sinh hoạt với dòng chính Hoa Kỳ cũng như hiện tình đất nước Việt Nam thì tôi lại là người chẳng biết gì về Việt Nam. Một người giỏi về điện toán và có nhiều khả năng cũng như phương tiện thông tin như tôi mà lại yếu kém về tình hình Việt Nam kể ra cũng là một điều lạ. Như vậy cũng đừng trách đa số đồng bào Việt Nam chúng ta tại hải ngoại cũng còn yếu kém về kỹ thuật tin học và kiến thức xử dụng internet. Những người này càng yếu kém kỹ thuật thì càng bị mù tịt về Việt Nam hơn tôi nữa. Bởi vì họ đã được hướng dẫn sai lạc để hiểu sai lầm về tình hình đất nước. Khi đã bị bịt mắt bắt dê về những trò chơi tin học thì người ta càng dễ bị mù loà về sự thật. Cộng thêm những tư tưởng cực đoan lỗi thời càng dễ làm cho người ta sẵn sàng để bị lưà gạt vào trò chơi trò xuyên tạc sự thật cho mục đích chính trị.
 
Có lẽ một số quý vị cũng sẽ trách chúng tôi là những người ngu dốt chẳng nhìn thấy gì đang thay đổi tại Việt Nam? Đúng vậy lời trách không sai, nhưng nói đi cũng phải nói lại. Lấy trường hợp tôi làm thí dụ, nếu tôi không về Việt Nam tháng 9/2011 thì có lẽ tôi vẫn còn bị bịt mắt bắt dê cho đến khi có cơ hội về lại Việt Nam hoặc sẽ không bao giờ được mở mắt thấy được sự thật nếu không về Việt Nam. Thật vậy, khi trở lại Hoa Kỳ nhiều người không tin những gì tôi nói cho là tôi nguỵ biện để che đậy hoặc biện minh cho hành động “phản bội”. Nhưng rồi dần dần qua những chuyến đi sau, những tấm hình, khúc phim video và bài viết cuả tôi đã có nhiều người bắt đầu tin và cũng báo tin cho tôi đã họ về Việt Nam như lời kêu gọi cuả tôi: “Ai chưa về Việt Nam hãy về một lần cho biết” trên kênh truyền hình VTV4.
 
Nói như vậy không phải ai về Việt Nam cũng sẽ thay đổi cái nhìn cuả mình giống như tôi. Trong một xã hội thì bên cạnh những tích cực cũng có những tiêu cực. Thành phần bất mãn thì đất nước nào cũng có. Người ta rất dễ dàng lầm lẫn giữa xã hội và chính trị, giữa cá nhân và tập thể và trong sự bất mãn về bất cứ một vấn đề gì, kể cả tiện nghi đời sống cá nhân thì chính quyền luôn luôn là đối tượng để chỉ trích. Một thí dụ rất đơn giản, những người yếu bụng nhưng lại đi ăn uống ở những quán ăn bình dân rất dễ bị trúng thực hoặc nhẹ nhất là đau bụng. Cá nhân tôi thì trời cho là người “tốt bụng” (nghiã đen lẫn nghiã bóng) về Việt Nam 3 lần từ Bắc chí Nam không bị đau bụng bao giờ. Bước chân vào một quán cóc bên đường hay một nhà hàng trung bình hoặc sang trọng lẽ dĩ nhiên có sự khác biệt mà ở Mỹ cũng vậy thôi. Nhưng bà con ta sẵn sàng đổ thừa về phiá nhà nước nếu có sự cố xảy ra. Cái gì cũng chê và dè bỉu nhà nước quản lý không đúng mức. Nhất là những người hải ngoại lại thường có thành kiến rất cổ thụ nên nhà nước rất dễ được làm đối tượng và lý do để chỉ trích.
 
Một người đầu tư không đúng chỗ, mất mát hoặc trắng tay bảo đảm chính quyền sẽ là mục tiêu chính để sẵn sàng cho họ đổ lỗi mà không biết nhận phần yếu kém về kiến thức hoặc điều hành sai lầm cuả mình. Đó là một vài thí dụ tôi đã quan sát trong những chuyến đi ngắn ngủi về Việt Nam để ngoài những tiêu cực, tôi đã khâm phục về sự điều hành đất nước trong hơn 3 thập niên qua. Tôi đã nhìn thấy những kiến trúc cao tầng từ những thành phố tôi đi qua như Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn, Long Khánh và Cần Thơ cũng như nhiều thành phố cuả miền Tây nam bộ. Gần đây nhất tuần qua tôiã có cơ hội đi Móng Cái và tận mắt nhìn thấy cột mốc đất và cột mốc biển tại Trà Cổ. đaTôi chưa có cơ hội đi hết những nơi khác, nhưng tôi tin rằng cũng đã có nhiều thay đổi. Những tuyên truyền về “đàn áp tôn giáo” hoàn toàn biến mất trong tư tưởng khi tôi nhìn thấy những kiến trúc đồ sộ như Đại Chủng Viện (Công Giáo) Long Khánh lớn nhất Đông Nam Á hoặc chùa Bái Đính mới xây cất gần chùa cũ được Liên Hiệp Quốc công nhận là kiến trúc văn hoá cũng như lớn nhất Đông Nam Á. Làm sao có đàn áp tôn giáo khi nhà thờ Thái Bình tôi đi qua hoặc rất nhiều nhà thờ cũng như chùa chiền xây dựng dọc bên đường quốc lộ 1 từ ngã tư Tam Hiệp đến Long Khánh. Nhiều nơi nữa, tôi chỉ đơn cử vài thí dụ để cho thấy sự kiện không đi không thấy, không thấy không tin. Tôi đã đi, đã thấy, đã tin và vì đã tin nên tôi phải viết, viết sự thật bằng tiếng nói trung thực cuả thiên chức người làm báo. Một nửa ổ bánh mì vẫn là ổ bánh mì, nhưng một nửa sự thật chưa phải là sự thật. Như vậy cái lỗi tôi có “tiên trách kỷ” này không hoàn toàn là lỗi cuả tôi ngu dại mà còn là lý do “hậu trách nhân” nữa chứ.           
 
Tôi nghĩ rằng nhà nước Việt Nam hãy còn yếu kém và thiếu sót về phương diện cổ động, nói theo ngôn ngữ trong nước là “động viên” tuyên truyền chưa đúng mức. Nhà nước phải làm sao động viên và khích lệ bà con hải ngoại thay đổi cái nhìn về đất nước bằng những chuyến đi và tổ chức tiếp xúc nói chuyện cuả các nhà lãnh đạo. Các doanh gia Khu Du Lịch cần tiếp xúc với kiều bào qua các buổi nói chuyện tại các thành phố có đông nngười Việt cư ngụ. Cần trưng bày, triển lãm những sinh hoạt trong nước ra hải ngoại để giới thiệu với người bản xứ và những người Việt Nam còn thành kiến. Hoàn cảnh cuả đất nước chúng ta là một hoàn cảnh khá đặc biệt. Cộng đồng Trung Hoa, Đại Hàn, Cu Ba cũng có bối cảnh gần như đồng dạng với chúng ta. Nhưng họ lại không có va chạm chính trị như người Việt hải ngoại với nhà nước.
Họ cũng có những đối nghịch về ý thức hệ, nhưng đời sống cuả họ không có những cực đoan như cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhà nước cuả những quốc gia này không phải đối phó với những cuộc biểu tình hay chống đối như cộng đồng người Việt. Nhà nước Việt Nam sau ngày thống nhất có rất nhiều khó khăn để vượt qua; nhất là giai đoạn tiếp thu miền Nam đã phải đối phó một gánh nặng kinh tế cho hơn 20 triệu người miền Nam và khoảng 5 triệu người thuộc thành phần dân, quân, cán, chính và gia đình không nghề nghiệp chuyên môn và đời sống hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ Mỹ qua hình thức được trả lương công chức hay quân nhân sau khi miền Nam sụp đổ. Những người miền Bắc chắc chắn đã có kế hoạch và những tiên liệu khó khăn khi vào tiếp thu miền Nam. Vì thực tế đã chứng minh họ đã chuẩn bị và có đủ phương sách hữu hiệu đối phó và giải quyết trong giai đoạn khó khăn này. Ít ra về mặt kinh tế đất nước đã ổn định và thực tế đã chứng minh qua vị trí đứng Việt Nam ta ngày nay trên trường quốc tế với trên 180 quốc gia đã chính thức công nhận.
 
Trong khi đó thế giới bên ngoài, dư luận người Việt lẫn các cường quốc vẫn có những cái nhìn thiếu thiện cảm vì ý thức hệ Cộng Sản và Tự Do. Do đó, thuyết phục dư luận thế giới là một công việc phải nói là rất khó khăn. Nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam đặc biệt là những viên chức thuộc ngành ngoại giao theo tôi, đã hoàn tất nhiệm vụ phải nói là rất tốt đẹp để có được một nước Việt Nam ngày nay với một vị thế vững vàng trên bàn cờ thế giới, nhất là Liên Hiệp Quốc và các đại cường như Hoa Kỳ, Nga Sô và khối Âu Châu. Nhưng song song những thành quả này nhà nước hình như đã chưa chú trọng nhiều đến những người Việt Nam cư ngụ tại nước ngoài. Nghị Quyết 36 đã ra đời ngày 26 tháng 3 năm 2004 nhưng hầu như những người Việt hải ngoại kể cả tôi chưa ai hiểu nhiều hoặc nắm vững NQ36 mang ý nghiã gì vì nhà nước thiếu sự tuyên truyền và cổ động. Một mục tiêu rất đơn giản là “Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời đất nước và dân tộc.” Nội dung này đã không được khai thác triệt để và đúng mức tại hải ngoại. Đó là điều mà tôi muốn nói “hậu trách nhân”. Tại Hoa Kỳ mãi đến năm 1997, mới chính thức bang giao với Việt Nam sau 22 năm trừng phạt ngoại giao. Trong 15 năm bang giao, lẽ dĩ nhiên các cơ sở đại sứ và tổng lãnh sự đã chưa đủ thời gian và thì giờ để dồn công sức vào chiến dịch thu phục nhân tâm. Ngoại trừ những đẩy mạnh về phương diện thương mại để phát triển kinh tế.
 
Tôi bảo đảm những người đi biểu tình chống Nghị Quyết 36 hoàn toàn không hiểu nội dung và tinh thần cuả bản Nghị Quyết này. Lý do, đã có ai giải thích cho họ cho hiểu bản NQ 36 nói gì? Câu trả lời là thưa không. Họ chỉ hiểu một cách bâng quơ là NQ36 để chiêu dụ Việt kiều đem tiền bạc về đầu tư, một hình thức củng cố chế độ. Vận động chiến là chuyện nhà nước, tôi không dám lạm bàn vì không biết chủ trương và phương thức đối ngoại cuả nhà nước với Việt kiều như thế nào. Tôi chỉ biết là nhà nước vẫn còn thiếu sót và tuyên truyền chưa hữu hiệu. Nếu có góp ý cuả tôi, chắc không phải trong bài tham luận ngắn này.
 
Về chuyện báo chí cũng vậy rất là thiếu sót và không có một bộ phận tiếp nhận và phân phối tại hải ngoại. Đặc biệt là Nam California, nơi mà tôi nghĩ nhà nước Việt Nam và các cơ sở báo chí trong nước chưa vận dụng đủ để đưa những hình ảnh về nhà nước Việt Nam để giới thiệu với kiều bào. Thí dụ tạp chí Quê Hương cuả Uỷ Ban Nhà Nước, một tờ báo rất có giá trị về nội dung và đẹp đẽ về hình thức cũng như trình bày rất trang nhã cũng không được phân phối rộng rãi tại hải ngoại. Nếu nhà nước chưa có đủ phương tiện phát hành rộng rãi khắp nơi thì ít ra những vùng có đông người Việt Nam cư ngụ thì tạp chí Quê Hương cần phải được có mặt vì đó là biểu tượng quê hương đúng như tên gọi. Nhà nước cần phải đánh thức cái nhìn sai lạc cuả người Việt hải ngoại về hiện tình đất nước bằng cách này hay cách khác. Trang mạng KBCHN cuả tôi đã có những hình ảnh ngày nay và ngày xưa cuả Hà Nội, Sài Gòn để độc giả so sánh những phát triển vượt bực từ hơn 30 năm qua. Tôi hãnh diện vì số độc giả tại Hoa Kỳ nhiều gần gấp 5 lần độc giả trong nước. Điều này cho thấy sự quan tâm cuả Việt kiều với đất nước. Lẽ dĩ nhiên, báo mạng trong nước cũng đang cùng lúc phát hành, có thể có cả triệu người trong nước đọc mỗi ngày nhưng có được bao nhiêu độc giả hải ngoại tìm đọc các trang mạng trong nước? Một lý do rất dễ hiểu là thành kiến hơn 800 tờ báo mà chỉ có một tổng biên biên tập. Họ nghĩ như vậy và họ tin là như vậy. Khi nhà nước biết điều này thì công việc nhà nước phải làm là gì? Những tờ báo như trang mạng KBCHN, Phố Bolsa TV và Việt Weekly có được xem như là những nơi để nhà nước có thể “lợi dụng” làm một môi trường để tuyên truyền khi hải ngoại không muốn đọc trang mạng trong nước vì thành kiến? Tôi không nói đến sự yểm trợ tài chánh hoặc mua chuộc từ nhà nước, bởi vì hình thức này những cơ quan truyền thông nhận sự bảo trợ tài chánh sẽ bị mang tiếng hoặc trở thành những công cụ tuyên truyền cuả nhà nước không hơn không kém. Khi đó tính chất vô tư và trung thực cuả tờ báo sẽ không còn giá trị vì ít nhiều có sự chi phối. Nhưng bằng cách nào nhà nước có thể gián tiếp yểm trợ mà không bị mang tiếng là “mua chuộc” mà tờ báo vẫn giữ vị thế cuả mình mà không gặp khó khăn về tài chánh?
 
Nhà nước không nên và không cần đầu tư tiền bạc vào các tờ báo tại hải ngoại. Ngược lại các cơ quan báo chí hải ngoại chắc chắn cũng không muốn nhận những đồng tiền “dễ dãi” để mất tính độc lập. Số người Việt cư ngụ tại nước ngoài về Việt Nam thăm quê hương càng ngày càng đông thì nhu cầu kinh tế và thương mại tại Việt Nam cũng vậy càng ngày càng phát triển. Những nhu cầu rất tầm thường như khách sạn, nhà hàng, bác sĩ chuyên môn và tổng quát, những dịch vụ tưởng là đơn giản không cần thiết (nhưng lại không biết tìm đâu khi cần) đến những nhu cầu du lịch, những “tua” (tour) thăm viếng những Khu Du Lịch và danh lam thắng cảnh hoàn toàn không có quảng cáo trên 3 cơ quan truyền thông nói trên. Những cơ quan sẵn sàng dám đăng và chịu đăng tin tức thật như KBCHN, PhoBolsaTV, Việt Weekly, Tiếng Quê Hương lại không được yểm trợ hoặc nhà nước giới thiệu để đăng quảng cáo. Một hình thức rõ ràng chỉ là dịch vụ quảng cáo không hơn không kém.
 
Nếu một sự bất đắc kỳ tử phải đóng cưả vì tình trạng bao vây kinh tế cuả một số quá khích tại hải ngoại làm cho tờ báo không đủ tài chính để giải quyết chi phí thì hậu quả sẽ là gì? Không một cơ quan nào trong tương lai dám “thân thiện” với nhà nước để không những không có lợi lộc mà ngược lại còn tạo khó khăn cho tờ báo. Như vậy có ai dám phiêu lưu vào một cuộc hôn nhân tình chính trị mà câu trả lời “không bền vững” đã có sẵn hay không? Khi đó lập luận cho rằng “hải ngoại không chấp nhận bang giao với Việt Nam đã thành công” vì báo chí hải ngoại có ai dám can đảm tiếp tục “bang giao” với nhà nước nữa? Trong khi thực tế ai cũng biết không phải vì bị chống đối mà là hi sinh chẳng đổi được lợi lộc gì.
 
Thực tế số người về Việt Nam thăm đất nước được đếm bằng số vé máy bay tiêu thụ hằng năm, đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán là điều không chối cãi, số người này rất cần có những chi tiêu khi ở Việt Nam, vậy mà không có một quảng cáo nào cho các thương vụ? Tôi nghĩ rằng chính sách hoà hợp hoà giải và Nghị Quyết 36 vẫn chưa được thực hiện để phát triển mục tiêu mời mọc Việt kiều trở về càng đông càng tốt và có lẽ sẽ không bao giờ thực hiện được vì hố ngăn cách chưa được lấp bằng. Việc tôi và các anh em nhà báo mở cánh cửa và nối một nhịp cầu từ hải ngoại về khi đó chỉ là một tiếng vang và sẽ chìm vào quá khứ, nếu không có một phương thức tích cực hơn để giải quyết tình trạng khó khăn cho những tờ báo tiên phong. Không lẽ mọi người sẽ chỉ biết ngồi chờ thời gian, hi vọng thế hệ cuả lớp người ở giai đoạn 1975 không còn tồn tại nữa thì may ra không còn sự chống đối? Đó không phải là chính sách tốt và cách giải quyết tích cực để thiết lập một căn bản lâu dài và tồn tại mãi mãi.
 
Tôi mong muốn có một văn phòng liên lạc báo chí tại hải ngoại và trong nước để làm nơi trao đổi tin tức. Tại sao? Cá nhân tôi không thể và cũng không có thì giờ để đọc toàn bộ những tin tức cần thiết hoặc tin nóng cuả tất cả các tờ báo trong nước để đưa lên mạng KBCHN. Các cơ quan khác cũng vậy. Báo chí hải ngoại cũng không có đủ phương tiện để đi đi lại lại về Việt Nam nhiều lần để làm những thước phim phóng sự và bài viết “giới thiệu” tại Việt Nam hầu đánh thức tình yêu quê hương nếu không có sự bảo trợ quảng cáo từ các đại gia, doanh nhân trong nước, nhất là các tập đoàn Khu Du Lịch hoặc Khu Sinh Thái.
 
Tình quê hương hầu hết những người hải ngoại đều có, nhưng làm sao đánh thức tình yêu đó. Tại sao không có những bài viết, phóng sự tại Việt Nam để mọi người biết về Việt Nam đi đâu, làm gì, du lịch ở đâu, các khu du lịch có những gì hấp dẫn? Đó là câu trả lời tại sao các nhà báo hải ngoại chúng tôi cần có mặt tại Việt Nam và những doanh gia trong nước, chủ nhân cuả các cơ sở Khu Du Lịch, các resort, các nơi giải trí cần phải giới thiệu dịch vụ đến chúng tôi. Làm như vậy nhà nước đâu có mất gì và đã vô tình thực hiện được những dự án quy mô cho chủ trương hoà hợp hoà giải lại vừa tạo được thương vụ cho kinh tế nước nhà.
 
Báo chí hải ngoại đều lấy tin các báo trong nước, nhưng lại toàn những tin tiêu cực. Một văn phòng đại diện báo chí trong nước và hải ngoại để trao đổi tin tức là một nhu cầu cần thiết hầu phổ biến những tin tức cần thiết cuả cả hai chiều thông tin. Hai phần ba tin tức cuả KBCHN là tin trong nước nhưng tại sao bà con Việt kiều hải ngoại vẫn tìm đọc mà không đọc thẳng từ trang mạng trong nước? Bởi vì tin KBCHN có một chiều hướng khác, tờ báo từ hải ngoại và không nằm trong sự kiểm soát cuả nhà nước Việt Nam. Nội dung bản tin đập thẳng vào thị hiếu cuả độc giả: đó là “sự thật”.  
 
Có lẽ thời gian không cho phép tôi được nói thêm nữa mặc dù chúng tôi còn rất nhiều điều để trình bày. Nhất là sau 36 năm thì tôi lại càng cần nói nhiều hơn nữa. Tình yêu quê hương còn nhiều và sự đóng góp cho quê hương cũng không thể gói trọn trong bài tham luận này. Chúng ta nên nhớ một điều Tổ Quốc chỉ có một và đất nước thì tồn tại muôn đời, trong khi con người thì chỉ có một thời gian để sống và để yêu nước. Tại sao chúng ta không yêu nước trong khi chúng ta còn hơi thở? Tại sao chúng ta không chung tay góp sức xây dựng đất nước khi chúng ta còn sức lực. Không ai phủ nhận sức mạnh cuả truyền thông, nhưng tôi lại chưa thấy ai có đôi đuã thần để biến cái sức mạnh truyền thông thành một cây cầu nối nhịp từ trong nước ra Hoa Kỳ nói riêng và hải ngoại nói chung. Hiện nay báo chí hải ngoại có nhân tố, có điều kiện nhưng phương tiện eo hẹp cho thấy cái khó nó bó cái khôn. Mà một khi cái khôn bị bó thì sự phát triển sẽ không có cơ hội được thực hiện. Khi ấy sẽ không còn cơ hội nào tốt đẹp hơn để làm một nhịp cầu khác khi nhịp cầu hiện tại không được xây dựng. Bởi vì chúng tôi chưa có cơ hội được ngồi xuống với nhà nước Việt Nam qua Uỷ Ban Nhà Nước hoặc Bộ Thông Tin và Truyền Thông để cùng nhau trải lên mặt bàn một sơ đồ để làm việc chung. Phải chăng tất cả vẫn chỉ là một giai đoạn thăm dò và còn nằm trong sự thử thách niềm tin?
 
Tôi hi vọng nhà nước sẽ còn tiếp tục tổ chức những lần Nghị Hội như vậy, ít nhất 2 năm một lần để đồng bào người Việt cư ngụ khắp nơi trên thế giới có cơ hội về gặp gỡ và đóng góp ý kiến tư tưởng với nhau. 37 năm mà chỉ có 2 lần Hội Nghị là quá ít và mới thực hiện năm 2009 là quá trễ.
 
Trước khi dứt lời, tôi xin cám ơn quý vị đã lắng nghe bài tham luận này và xin được chấm dứt bài đọc bằng những lời chúc tốt đẹp cho sức khỏe, may mắn và thành công đến quý vị, đến tất cả những người con xa quê hương nhưng lòng luôn nghĩ đến cội nguồn dân tộc và đất nước. Cầu xin ơn trên Quốc Tổ linh thiêng phù hộ cho dân tộc.