Thái Hà trở lại tâm điểm của cuộc tranh chấp


Thứ hai 07 Tháng Mười Một 2011

Thái Hà lại trở thành tâm điểm của tranh chấp đất đai Giáo hội-Nhà nước

30-7-2011%20Thap%20Nen%20(13).jpgThánh lễ cầu nguyện cho hòa bình, chủ quyền của Việt Nam và ủng hộ các nhà dân chủ, Nhà thờ Thái Hà, Hà Nội, 30/7/2011.

Trong những ngày qua, tình hình tại giáo xứ Thái Hà, Hà Nội lại nóng lên, sau vụ một đám đông cả trăm người, được mô tả là « quần chúng tự phát », xông vào uy hiếp, hành hung các linh mục, tu sĩ trong sân nhà thờ ngày 3/11 vừa qua. Vụ này là diễn biến mới của tranh chấp nhà đất đã kéo dài từ nhiều năm qua giữa Dòng Chúa Cứu thế ( DCCT ) Hà Nội với chính quyền địa phương.

Vụ việc xảy ra sau khi các linh mục, tu sĩ giáo xứ Thái Hà ngày 27/10 vừa qua nộp đơn đòi trả lại cơ sở của tu viện DCCT Hà Nội mà theo họ, chính quyền thành phố Hà Nội đã mượn từ 40 năm nay để làm bệnh viện Đống Đa, nhưng đã sử dụng sai mục đích, thậm chí trái với tâm linh, đạo đức tôn giáo. Ngoài việc nộp đơn, DCCT đã lắp trên nóc Tu viện trong nhà thờ Thái Hà một bản điện tử với hàng chữ : « Yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội trả lại tu viện đang mượn làm bệnh viện Đống Đa ». Yêu cầu này càng bức thiết vì bệnh viện này đang chuẩn bị thực hiện dự án trạm xử lý nước thải ngay trên đất của giáo xứ Thái Hà.

Nhưng báo chí chính thức ở Việt Nam thì lại không nhắc gì đến yêu cầu nói trên của DCCT, mà trình bày sự việc như là « vụ cản trở xây dựng Trạm xử lý nước thải Bệnh viện Đa khoa Đống Đa », một công trình « phúc lợi xã hội ». Riêng tờ Hà Nội mới, trong hai ngày 2 và 3/11 đã đăng liên tiếp những ý kiến của một số « bạn đọc », tất cả đều « bất bình » với « hành vi vi phạm pháp luật » của các linh mục Giáo xứ Thái Hà và đều yêu cầu chính quyền phải nghiêm trị các linh mục đó.

Theo tường thuật của đài truyền hình Hà Nội, chính là do « cực kỳ bức xúc » trước việc « cản trở xây dựng Trạm xử lý nước thải Bệnh viện Đa khoa Đống Đa », nên chiều ngày 3/1, nhân dân phường Quang Trung, quận Đống Đa, gồm các « cựu chiến binh, đại diện Mặt trận Tổ quốc, phụ nữ cơ sở » đã kéo đến nhà thờ Thái Hà để « đối thoại » với linh mục chánh xứ Nguyễn Văn Phượng. Nhưng các linh mục và một giáo dân đã đáp lại bằng những « hành vi hung hãn ».

Tuy nhiên, theo báo cáo của linh mục chánh xứ Nguyễn Văn Phượng với Tổng giám mục Hà Nội thì chính những người dân đó đã cầm loa tay chửi bới các tu sĩ, linh mục và xô xát với các linh mục, tu sĩ và giáo dân. Những hình ảnh được phổ biến trên mạng Internet về sự việc ngày 3/11 cũng cho thấy là đi kèm theo đám « quần chúng tự phát » nói trên là một số người quay phim, chụp ảnh, mà trong đó nghe nói có một số công an mặc thường phục, chứng tỏ là hành động của đám đông này đã được chuẩn bị trước.

Bên cạnh việc huy động « quần chúng tự phát », theo tin của tờ Người Lao Động ngày 31/10, chính quyền quận Đống Đa còn ra quyết định xử phạt hành chính đối với linh mục Nguyễn Văn Phượng về « hành vi vi phạm trật tự công cộng » và xem việc lắp đặt bảng điện tử trên nóc tu viện là sai phạm vì « không có giấy phép quảng cáo và lợi dụng quảng cáo để xúc phạm danh dự lợi ích của tổ chức ».

Nhưng vụ việc nay không chỉ liên hệ đến quận Đống Đa và giáo xứ Thái Hà, vì Tòa Tổng giám mục Hà Nội ngày 4/11 vừa qua bày tỏ sự ủng hộ với tu viện và giáo xứ Thái Hà, tuyên bố « không chấp nhận những hành vi thiếu văn hóa và vi phạm pháp luật » của những người đã xâm nhập khuôn viên nhà thờ với những lời lẽ, xúc phạm và gây hấn. Đặc biệt, Tổng giáo phận Hà Nội khẳng định quyền sở hữu của DCCT trên khu đất của tu viện, « bao gồm cả cơ sở và những phần đất mà cơ quan Nhà nước đang sử dụng trên diện tích này ».

Không chỉ ở Thái Hà, mà tranh chấp nhà đất giữa Giáo hội Công giáo với Nhà nước vẫn còn dai dẳng ở nhiều nơi khác, nhưng có lẽ là do ở Hà Nội áp lực về nhà đất rất lớn, cho nên tranh chấp tại đây gay gắt hơn hết, thêm vào đó là thái độ kiên quyết của các linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà, cho nên giáo xứ này lại trở thành trung tâm điểm của những tranh chấp này. Trong cuộc chiến không cân sức đó, truyền thông vẫn đóng vai trò trọng yếu, vì rõ ràng là nhờ mạng Internet mà giáo xứ Thái Hà có thể nhanh chóng phổ biến thông tin đáp lại những tuyên truyền trên báo chí chính thức.

Advertisements

5 thoughts on “Thái Hà trở lại tâm điểm của cuộc tranh chấp

  1. yeulamvietnam

    Vụ việc như trên, chỉ có người trong cuộc mới biết, chỉ có người trong nước mới biết sự thực.
    Khi thông tin được truyền ra nước ngoài, đặc biệt là do chính các đối tượng ở Thái Hà quay mà truyền ra thì toàn là bịa đặt, không đúng.

    Chỉ cần trả lời vài câu sau là thất sự việc:

    1. Giáo xứ là một tổ chức tôn giáo hay là một tổ chức chính trị?: Ai cũng trả lời là tổ chức tôn giáo, ấy thế mà mấy ông ấy chuyên đi làm chính trị, tuyên truyền cho giáo dân những điều sai trái từ Van ti Căng, không tuân thủ luật lệ nhà nước. Suốt ngày đi biểu tình, cầu nguyện mất thời gian

    2. Giáo xử ở một nước có phải tuân thủ luật lệ của nước đó không? hay là một lãnh địa riêng: Xin thưa, giáo xử cũng chỉ là một bộ phận của dân tộc, của đất nước. Lấy đâu ra cái cái loại đạo gì mà có quyền đòi lại đất từ cái cái đời nào đời nào? Lấy đâu ra một cái loại đạo mà toàn xã hội đi theo thì mình ông ấy đi một đường.

    3. Chẳng có công an nào đánh đập họ cả mà chính những người không đi đạo trong khu vực, khi không làm ăn được do bọn người này suốt ngày đi biểu tình, nên họ tức lên họ nện cho.

    Like

    Reply
    1. KBC HẢI NGOẠI Post author

      Bạn đọc Yeulamvietnam,

      Sự kiện này cho thấy năm 2010, tại hải ngoại trên báo chí và internet tin đồn lan nhanh là giáo xứ Thái Hà bị tấn công, tượng Đức Mẹ bị đập phá gây phẫn nộ cho người cực đoan, gây hoang mang cho người Công Giáo chân chính. KBCHN nhờ một người quen kiểm tra thì được biết lúc đó chính quyền đang xây dựng một công trình kiến thiết không dính líu gì đến Thái Hà. Những hình ảnh đó là công ty xây dựng đang cày nền làm móng.

      Sau đó 1, 2 tháng bản tin BBC, RFA cho thấy hình ảnh 4, 5 ngàn giáo dân dự Thánh Lễ Giáng Sinh thì những cái loa “tuyên truyền” im lặng cho đến nay lại bùng lên.

      Cám ơn yeulamvietnam. Bạn nhận được email của thacmac52@yahoo.com không?

      Like

      Reply
  2. Nguabuon Thuong
    Nguyễn Mạnh Quang bản in ¿ trở ra mục lục 23 tháng 2, 2011 PHẦN IV ◎◎◎ CHƯƠNG 21 ÂM MƯU CỦA VATICAN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM – ĐỀ NGHỊ MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỐI PHÓ – ► Những việc làm của Vatican sử dụng để đánh phá Việt Nam – ► Chính sách chia để trị và âm mưu cướp chính quyền cúa Vatican ở Việt Nam – ► Những âm mưu và kế hoạch của Vatican cướp chính quyền ở Việt Nam – ► Kết luận về Giáo Hội La Mã và một số đề nghị Khó ai có thể chối cãi được rằng, từ mấy thế kỷ vừa qua, Vatican đã có những hành động thù địch đối với tổ quốc và dân tộc ta. Đã từ lâu, đất nước chúng ta đã phải liên tục đối phó với những thủ đoạn và việc làm do Vatican chủ động đánh phá nước bằng trăm phương ngàn kế. Vatican luôn luôn lợi dụng việc truyền giáo để lập những đạo quân nòng cốt làm lực lượng xung kích chuẩn bị cho mưu đồ đánh cướp chính quyền. Sau đó Vatican sẽ thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô và thi hành kế họach Ki-tô hóa dân bản địa bằng bạo lực như họ đã làm ở Âu Châu trong thời Trung Cổ, ở Châu Phi, ở Châu Mỹ La-tinh, ở Phi Luật Tân từ đầu thế kỷ 16, và ở Croatia trong những năm 1941-1945. Bước đầu họ dùng lợi lộc câu nhử những phần tử hạ lưu trong xã hội chạy theo bắt mồi mà trở thành tín đồ, rồi gom những con mồi này vào sống ở trong một khu vực riêng biệt gọi là “xóm đạo”, và đoàn ngũ hóa họ thành những đạo quân thứ 5. Nhìn lại, chúng ta thấy từ đầu thế kỷ 19 đến nay, Vatican đã: 1.- Sử dụng nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô bản địa làm đạo quân thứ 5 và lực xung kích nòng cốt đánh cướp chính quyền. 2.- Liên kết với Pháp đem quân đánh chiếm và thống trị nước ta trong những năm (1858-1945.) 3.- Liên kết với Pháp để tái chiếm Đông Dương vào tháng 9 năm 1945 rồi chủ động đưa Bảo Đại lên thành lập chính quyền với dã tâm thi hành chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, chuẩn bị cho kế sách “dùng tín đồ Ca-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc tam giáo cổ truyền”. 4.- Liên kết với Hoa Kỳ đưa con chiên Ngô Đình Diệm lên cầm quyền với dã tâm duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi, biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt tách rời khỏi tổ quốc Việt Nam, rồi thi hành Kế Hoạch Ki-tô Hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực. 5.- Mấy năm gần đây, Vatican đang trở lại sử dụng nhóm thiểu số tín đồ Ca-tô bản địa làm lực xung kích chờ cơ hội để đánh cướp chính quyền. Tri bỉ, tri kỷ, bách chiến bách thắng. Do đó, muốn đối phó với Vatican hay phá vỡ những thủ đoạn và kế sách mà Vatican sử dụng để đánh phá đất nước ta, chúng ta cần phải biết rõ Vatican là một thế lực như thế nào. Có như thế, thì chúng ta mới có thể tìm ra phương cách đối phó hiệu quả. Mục đích của chương sách này là làm cho độc giả thấy rõ (1) những việc làm bất chính, đại gian đại ác với những thủ đoạn và kế sách của Vatican đánh phá đất nước ta để tiên hành kế họach trên đây, và – (2) mối nguy hiểm cho nền văn hóa và văn minh nhân lọai gây ra bởi những gương xấu của giới lãnh đạo giáo hội và của giới tu sĩ của hệ phái tôn giáo này. I. Vatican Huấn Luyện Tín Đồ Để Làm Lực Lượng Xung Kích Đánh Cướp Chính Quyền Việc đoàn ngũ hóa tín đồ được thực hiện đồng loạt bằng nhiều phương cách: biến tín đồ thành những người bị điều kiện hóa, dùng những lời dạy lưu manh để nhồi nhét vào đầu óc họ. Chính sách ngu dân của Vatican đưa đến nhiều hậu quả tai hại. Các giáo sĩ được nuông chiều và bao che để sống đời hoang đàng, đưa đến tình trạng loạn luân, dâm loạn trong hàng giáo sĩ và chức sắc “hội thánh”. Phần này đề cập đến ảnh hưởng nặng nề do những gương xấu của các đại diện Chúa trong giáo hội Ca-tô. A.- Đoàn Ngũ Hóa Tín Đồ Thành Những Đạo Quân Nằm Vùng Chờ Giờ Hành Động Tìm hiểu xã hội Ca-tô, chúng ta thấy rằng ngay khi vừa mới thâu nhân được một số tín đồ từ 4 hay 5 gia đình trở lên, các cán bộ truyền giáo Ca-tô liền tìm cách gom họ lại ở chung với nhau trong một khu xóm riêng rẽ gọi là xóm đạo hay làng đạo, sống riêng rẽ cách biệt hẳn với cộng đồng dân tộc. Việc làm này của Vatican có hai mục đích: 1.- Dễ dàng kiểm soát tư tưởng của tín đồ. Gom tín đồ vào ở chung một khu vực biệt lập với cộng đồng dân tộc là một việc làm tam tứ tiện vừa dễ dàng kiểm soát được tư tưởng cúa tín đồ, vừa có thể thi hành chính sách ngu dân và nhồi sọ, vừa đễ dàng điều động khi hữu sự. Theo châm ngôn “dân ngu dễ trị”, Vatican biến tín đồ thành những người hoàn toàn bị điều kiện hóa giống như những con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov. Vấn đề này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh mô tả rất rõ ràng như sau: “Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đòan ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mac, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể rờ tới.)” [1] 2.- Để dễ dàng đoàn ngũ hóa tín đồ thành các đội ngũ. Vatican lập ra vô số đội ngũ mà họ gọi là các đoàn thể hay hội đoàn như: Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Nghĩa Binh, Hội Con Đức Mẹ, Công Giáo Tiến Hành, Đạo Binh Xanh, Hội Các Bà Dòng Ba, Các Ca Đoàn với nhiều tên khác nhau, Hội Thánh Giuse Lao Công, Hội Các Bà Mẹ Công Giáo,… Trong thực tế, những đoàn thể hay các hội đoàn này được biến thành những đạo quân thứ 5 nằm tiềm phục đề vừa tiếp tay cho các đấng bề trên của họ trong các họat động tình báo, vừa nằm tiềm phục chờ lệnh trên để hành động. B- Thi Hành Chính Sách Ngu Dân Lịch sử cho thấy, một trong những kế sách hữu hiệu mà Vatican đã sử dụng để đánh phá nước ta là chia rẽ dân ta thành hai lọai người mà họ gọi là “dân có đạo” và “dân ngoại đạo”. Họ phỉ báng các tôn giáo và nếp sống văn hóa cổ truyền của dân bằng cả lời nói và hành động. Cuốn sách Phép Giảng Tám Ngày, đặc biệt là Chương Bốn (gọi là Ngày Thứ Bốn) có tựa đề là “Những Đạo Vạy” của Linh-mục Alexandre de Rhodes là bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này. Đồng thời, Vatican còn sử dụng hàng binh đoàn gián điệp với danh nghĩa là các giáo sĩ hay các nhà truyền giáo đem những chuyện hoang đường láo khoét và dùng những “hoa ngôn xảo ngữ” để mê hoặc và phỉnh gạt những con mồi mà đa số là những người nhẹ dạ khiến cho họ nhắm mắt tin theo mà trở thành tín đồ Ca-tô. Ghê tởm hơn nữa là họ (các giáo sĩ Ki-tô) tìm mọi cách khơi động lòng tham lam ích kỷ của người đời, dùng những miếng mồi vật chất để câu nhử và dụ khị những phương đê tiện, hạ lưu, tham lợi và háo danh chạy theo bắt mồi, rồi làm nô lệ suốt đời cho Vatican. Họ gom những người tham lợi “theo đạo lấy gạo để ăn” này vào cư ngụ ở một khu riêng biệt gọi là các xóm đạo hay làng đạo như đã nói ở trên để dễ bề huấn luyện giáo dân theo kế hoạch mở mang nước Chúa một cách bất lương và bất chính. Họ dạy giáo dân “phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.” [2] Rằng “Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất, chỉ nên tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican.”[3] Họ thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến giáo dân thành những người hoàn toàn bị điều kiện hóa, giống như một thứ người máy để cho họ điều khiển. Để phỉnh gạt tín đồ và người đời, họ sử dụng cụm từ “chính sách đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo” làm bức bình phong che đậy cho chính sách ngu dân dã man này của họ. Tìm hiểu chính sách này của họ, chúng ta thấy rằng họ có chủ tâm kiểm soát chặt chẽ các bài học lịch sử thế giới và các bài học quốc sử (đặc biệt là các bài học quốc sử trong thời cận và hiện đại). Họ kiểm soát chặt chẽ các bài học trong môn sử, không để cho một bài học nào trong chương trình: 1.- có thể gây bất lợi cho tín lý Ki-tô, bất lợi cho những lời dạy bất minh và bất chính (như trên) của giáo hội, 2.- để lộ những việc làm tội ác của Vatican chống lại những phát minh khoa học, những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. 3.- để lộ những hành động của Vatican có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến cái chết của gần 300 triệu nạn nhân thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác bị sát hai trong gần hai ngàn năm qua. [4] 4.- để lộ những hành động của Vatican chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam từ cuối thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Chuyện bộ lịch sử thế giới do hai ông Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn và phát hành trong niên học 1955-1956 bị một ông linh mục “yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu”, tác giả Nguyễn Hiến Lê bị “mạt sát là đầu óc đầy rác ruởi” và chính quyền Ngô Đình Diệm cho mật vụ đến rình rập tại nơi cư trú của tác giả Nguyền Hiến Lê là bằng chứng bất khả bác cho những vấn đề kiểm soát các bài học lịch sử như nêu lên ở trên [5] C.- Một Số Trong Những Lời Dạy Lưu Manh Của Vatican Một trong những thủ đọan lưu manh của Giáo Hội La Mã trong chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ mà họ gọi là “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo” là việc dùng những lời dạy phỉnh gạt cực kỳ lưu manh để nhồi nhét vào đầu óc tín đồ. Dưới đây là một số những lời dạy dỗ nặng tính cách phỉnh gạt và lừa bịp này: 1.- Niềm tin tôn giáo không cần đến sự can thiệp của khoa học và lý trí. 2.- Chỉ cần một niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể bứng cả trái núi quăng xuống biển. 3.- Vâng lời quý hơn của lễ. 4.- Không được nghe hay đọc sách của những người vô thần hay chống Chúa, 5.- Phải tuyệt đối trung thành với giáo hội. 6.- Phải triệt để tuân hành những lời dạy hay lệnh truyền của các đáng bề trên. 7.- Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết. (Chú thích 2 ở trên). 8.- Cha (linh mục) là đại diện của Chúa. Phải coi Cha như Chúa. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý Chúa. 9.- Nếu các Cha có làm gì sai trái, thì đã có Chúa phán xét, là tín đồ ngoan đạo, không được “bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha,” vì như thế tức là “phạm thánh” và sẽ bị Chúa trừng phạt đày xuống hỏa ngục đời đời”. 10.- “Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican.” (Chú thích 3 ở trên). Ngoài những lời dạy lưu manh trên đây, Giáo Hội La Mã còn dạy dỗ tín đồ làm những việc đại nghịch bất đạo. Tài liệu do ông Hội Trưởng Học Hội Đức Jesus Ki-tô Phục Sinh ghi lại những lời dạy dỗ đại nghịch bất đạo này của giáo hội với nguyên văn như sau: “Cộng Đồng Chung thứ 19 Tridentinô (Trentô 1545-1564), giáo hội đã ra tay củng cố “quyền giáo huấn” là một “chân lý tuyệt đối”. Công Đồng đã đưa tín lý và giáo điều vào các canon hình luật, một lời nói xúc phạm vào điều cấm của một canon là thụ án hỏa thiêu sống dễ như chơi. Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v… trước tòa án của giáo hội. Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559 ) tuyên bố: “Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn.” Ví dụ canon thứ nhất nói về tội bị thiếu sống, viết: “Nếu bất cứ ai nói rằng, con người có thể tự biện minh trước Thiên Chúa bằng việc làm của chính nó, bất kể việc làm qua giáo huấn nhân bản tự nhiên, hay giáo huấn của luật, nhưng không qua ân sủng của Thiên Chúa, (không) thông qua Đức Jesus Kitô, nó phải tuyệt thông (let him be anathema)…Hàng trăm “canon anathema chi li vụn vặt như thế”, giáo điều được “huấn quyền tuyệt đối của Giáo Hội” đưa vào hình luật, giết hại cơ man nào là người trong 8 thế kỷ (năm 1232, Giáo Hòang Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition). Một phương ngôn của khoa thần học Roma là: “Khi Giáo Hội Roma nói, mọi tiếng nói khác phải câm đi”. Một Giáo Hội tự “tuyệt đối hóa” mình nắm cực quyền trên sinh mạng sống đồng loại như thế, người ta không thể nói đến dân chủ.” [6] D.- Hậu Quả Của Chính Sách Ngu Dân Của Vatican Hậu quả (Vatican gọi là thành quả) của chính sách ngu dân này là hầu hết các tín đồ Ki-tô ngoan đạo (cuồng tín) của Vatican, bất kể là thuộc quốc gia nào, đều mù tịt về lịch sử thế giới cũng như lịch sử Giáo Hội La Mã và Việt Nam quốc sử. Cũng trong chính sách ngu dân này, tín đồ trở thành các con chiên thực sự. Họ (con chiên ngoan) bị làm cho mất hết khá năng lý trí để phân biệt được sự khác nhau giữa sự kiện (facts) và ý kiến (opinons), giữa nguyên nhận và hậu quả, giữa thuận lý và nghich lý, giữa cái đúng và cái sai, giữa phải và trái, giữa đạo lý và tôn giáo (họ lẫn lộn, coi những tín lý Ki-tô và lời dạy của Vatican là những nguyên tắc đạo lý), v.v…. Họ không có đủ khả năng viết một bài khảo luận đúng nghĩa. Ho tin tưởng mãnh liệt rằng họ có thể đạt được mục đích bằng những thủ đoạn phỉnh gạt, lừa dối, bằng ngô từ đao to búa lớn, bằng bạo lực và bằng khủng. Trường hợp quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” của Ông Nguyễn Gia Kiểng là một thí dụ. Tương tự như thế, những tác giả đạo Chúa như Lữ Giang (Tú Gàn), cựu thẩm phán Nguyễn Cần, văn sĩ hoạt náo Chu Tất Tiến, Nguyễn Văn Chức, Tôn Thất Thiện, Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Văn Lực, v.v… đều viết gian dối để biện minh cho nhân vật Ngô Đình Diệm, người đã dùng bạo lực để thực hiện giấc mộng cải đạo toàn quốc. Dù rằng họ biết rõ sự thực ông Ngô Đình Diệm là một “tên bạo chúa” vừa là phản thần, vừa là tam đại Việt gian”, nhưng họ vẫn viết sách, viết báo tôn vinh nó lên hàng “chí sĩ:” và “anh hùng dân tộc đã chết vì dân”.Đọc những tác phẩm của những tên văn nô trên đây và các tên văn nô Ca-tô khác, chúng ta sẽ thấy rõ vấn đề này. Hậu quả lớn nhất của chính sách ngu dân này của Vatican là hầu như tất cả các tín đồ ngoan đạo (cuồng tín) đều có những đặc tính Ki-tô như sau: 1.- Tuyệt đối tin tưởng và triệt để tuân hành những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican. 2.- Tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. 3.- Vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc. (Bằng chứng cho sự kiện này là những hành động phản quốc của tín đồ Ca-tô cuồng tín người Anh trong những cuộc chiến của dân tộc Anh chống lại các thế lực liên minh với Vatican trong những năm 1534-1691 (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_15.php), những hành động của tín đồ Ca-tô cuồng tín người Pháp chống lại dân tộc Pháp trong thời kỳ Cách Mạng từ tháng 7 năm 1789 cho đến đầu thế kỷ 20 (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php, http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_16a.php, http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_16b.php), và những hành động của tín đồ Ca-tô người Việt chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975, cũng như ở hải ngoại từ năm 1975 cho đến ngày nay. Một vài bằng chứng khác bất khả phủ bác cho sự kiện (đặc tinh) này là (a) khẩu hiệu “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô tổng thống” được lưu hành ở trong các cộng đồng Ca-tô người Bắc Kỳ di cư ở miền Nam trong những năm 1954-1963, (b) lời hô hào “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” của Linh-mục Hoàng Quỳnh vào mùa hè năm 1964 để kêu gọi và dạy dỗ giáo dân phải theo đó mà hành xử. (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_17.php.), và khi ở thế thượng phong hay có quyền lực trong tay, họ tin tưởng mãnh liệt vào bạo lực để cưỡng bách những người khác phải làm theo ý muốn của họ. 4.- Ít nhất là đi nhà thờ một tuần một lần đọc kinh cầu nguyện sáng tối mỗi ngày. 5.- Coi tất cả các ông tu sĩ Ca-tô như là đại diện cho Chúa ngay cả vào những khi họ không làm lễ, và tin rằng các ông tu sĩ này đều có quyền năng giống như Chúa Bố Jehovah, Chúa con Jesus. 6.- Nặng lòng mê tín, dị đoan, thật lòng tin hết tất cả những chuyện hoang đường nhảm nhí trong kinh thánh cũng như những chuyện nhảm nhí và láo khoét do Giáo Hội La Mã bịa đặt ra, và các ông tu sĩ Ca-tô rao truyền hay phổ biến. 7.- Thiển cận, chỉ tin vào những chuyện hoang đường láo khoét của Giáo Hội La Mã đưa ra, nhưng lại khinh rẻ tất cả những lễ nghi cúng tế các vị thần của các nhóm văn hóa khác và cho là tà thần,. 8.- Dị ứng đối với tất cả tài liệu hay bản văn nào nói đến (1) những sự thật về mặt tiêu cực trong kinh thánh, trong tín lý Ki-tô giáo, (2) đời sống bê bối thối tha, loan luân, loạn dâm, cùng những hành động tham tàn bạo ngược, dã man của các giáo hoàng cũng như của giới tu sĩ Ca-tô, và (3) những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. 9.- Hợm hĩnh, cao ngạo, lố bịch, trịch thượng, trong khi họ coi ông Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus là Thiên Chúa Tòan Năng, Toàn Thiện, có mặt ở khắp mọi nơi”, coi Giáo Hội La Mã là “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”, là “HiềnThê của Thiên Chúa Làm Người” và tự phong là “dân Chúa”, nhưng lại coi các vị thánh tổ và các đấng thần linh của các tôn giáo khác là “tà thần” và “ma quỉ”. 10.- Nặng đầu óc chia rẽ và nặng tinh thần kỳ thị, phân chia giai cấp, khinh rẻ các tôn giáo khác là “tà giáo” hay “tà đao” và các thành phần thuộc các tôn giáo khác là những quân “mọi rợ” hay “dã man” hoặc “man di”. 11.- Nặng đầu óc thiên vị và bất công, luôn luôn cho rằng cái gì thuộc về Giáo Hội La Mã đều tốt đẹp, đều cao cả, đều tuyệt vời, cái gì thuộc về các tôn giáo khác đều tầm thường, đều xấu xa và đều là tội ác. Nếu có người nào chứng minh các ngài mang chức thánh đại diện cho Chúa (linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng y và giáo hoàng) làm bậy, sờ mó con nít, gian dâm với nữ tín đồ, hoặc là có những hành động gian ác tàn ngược mà họ không thể chối cãi được, thì họ lại đổ lỗi cho là bị quỷ ám (lưu manh và xảo trá).. 12.- Xun xoe, khúm núm và quỵ lụy đối với các đấng bề trên hoặc những người có thế lực hay quyền uy lớn hơn. 13.- Hợm hĩnh, vênh váo, nghênh ngang, làm oai, làm phách, hách dịch, trịch thượng đối với những người lép vế, thế cô, nhất là đối với những người dưới cơ mà là những người thuộc các tôn giáo khác. Việc đòi hòi những người thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo Da-tô khi họ muốn thành hôn với người yêu là tín đồ của Vatican là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này. (Hoàn toàn không biết gì về ý niệm công bằng và cũng không có tinh thần tự do và dân chủ).. 14.- Hung dữ, hiếu chiến, hiếu sát, khát máu, tàn ác và dã man đối với những người thuộc các tôn giáo khác khi có quyền lực ở trong tay.(Bạo ngược và dã man). 15.- Nhập nhằng hay không có khả năng sử dụng lý trí để phân biệt được sự khác biệt giữa một bên là việc công và một bên là việc riêng tư (cá nhân), t giữa việc đạo và việc đời, giữa tôn giáo và chính quyền, giữa sự kiện và ý kiến, giữa nguyên nhân và hậu quả, giữa thuận lý và nghich lý, giữa đạo lý và tôn giáo, v.v…. Họ coi những tin lý Ki-tô và lời dạy của Giáo Hội La Mã hay của các đấng bề trên của họ là những nguyên tắc đạo lý. (Mất hết khả năng sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật). 16.- Tùy theo hoàn cảnh, phải cố gắng tối đa để thi hành nhiệm vụ biến cải những thành phần thuộc các tín ngưỡng hay tôn giáo khác theo đao Ca-tô bằng bất cứ thủ đoạn và phương tiện nào dù là bất chính, đê tiện, lưu manh, độc ác và dã man đến mức nào đi nữa họ cũng làm. Nhiệm vụ này được họ gọi là nhiệm vụ “làm sáng danh Chúa” hay “nhiệm vụ tông đồ”.(Siêu cuồng tín). 17.- Tỏ ra vô cùng sợ hãi Tòa Thánh Vatican, tán thưởng và khen tụng hết mình tất cả những lời dạy, quyết định và việc làm của Vatican. Tình trạng này đã khiến cho ngay cả một linh mục người Việt ở Việt Nam đã phải thốt ra lời chua chát “Toà Thánh đánh rắm cũng khen thơm.” [7] (Mất hết liêm sỉ, mất hết lòng tự trọng). 18.- Huênh hoang, khóac lác, khoe khoang làm ra vẻ thông kim bác cổ, làm ra vẻ như nắm vũng hết tất cả các vấn đề lịch sử rồi lên măt dạy đời, nhưng trong thực tế lại dốt đặc cán mai về lịch sử và kiến thức tổng quát. Nguyện do đã được nói rỏ trong A1 ở trên. Ở bậc tiểu và trung học, họ không được học lịch sử thế giới và quốc sử một cách trọn vẹn, rồi sau đó họ cũng không hề theo học ngành sử học ở bậc đại học, và cũng không bỏ thì giờ ra tìm đọc điều nghiên lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã và kinh thánh. Ấy thế mà họ mà lại dám lên mặt thày đời dạy bảo thiên hạ phương cách viết sử. Tiêu biểu cho hạng người này là Tôn Thất Thiện. Chúng ta hãy đọc những dòng chữ của ông Chính Đạo (một bút hiệu của sử gia Vũ Ngự Chiêu) viết về chuyện này: ”Tại hải ngoại, (Tôn Thất) Thiện tiếp tục chính sách đánh bóng chế độ Ngô Đình Diệm và đả kích những Tướng-lãnh làm đảo chính 1963. Thiện hay viết báo, dạy cách viết ”sử” hay phê bình ”sử” theo lối tuyên truyền nhồi sọ xưa cũ – dù chính Thiện có rất ít kiến thức về sử học.”[8]. Những đặc tinh Ki-tô trên đây cho chúng ta thấy rõ chính sách ngu dân và nhồi sọ của Vatican đã nhào nặn nhóm thiểu số người Việt theo đạo Ca-tô vốn là những người bình thường giống như những người Việt bình thường khác có đủ cả mọi nhân tính với những nếp sống văn hóa của nền đạo lý tam giáo cổ truyền của một quốc gia có mấy ngàn năm văn hiến thành hạng người vong bản, phản quốc, không còn biết liêm sỉ là gì nữa. Ta gọi họ là hạng người siêu cuồng tín. Ngòai những đặc tính siêu ngu xuẩn trên dây, tín đồ Ca-tô cuồng tín còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu đậm bời các gương xấu và lưu manh của giới tu sĩ Ca-tô và của những tên văn nô đồng đạo của họ. Đặc tính lưu manh này được thể hiện ra qua những bài viết hay những ấn phẩm cúa những tên văn nô như Linh-mụcTrần Công Nghị, Linh-muc Phan Phát Huồn, Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Linh-muc Nguyễn Hữu Lễ, Linh-muc Phan Văn Lợi, Linh-mục Nguyễn Văn Lý, Linh-mục Đinh Xuân Minh, Lữ Giang, Nguyễn Gia Kiểng, Chu Tất Tiến, nguyễn Văn Lục, Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh, Nguyễn Học Tập, Trần An Bài, Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng, nhóm linh mục và giáo dân tác giả cuốn Trần Lục (Montréal, Canada: TXB, 1996),v.v…. Đọc các tác phẩm này, chúng ta thấy rõ cái đặc tính lưu manh này của chúng. E.- Nuông Chiều Và Bao Che Cho Tu Sĩ Sống Đời Hoang Đàng Để Lấy Lòng Họ Các nhà viết sử cũng như các chứng nhân và các nạn nhân tại các thuộc địa của đế quốc thực dân xâm lược có liên minh với Vatican như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Bỉ đều ghi nhân rằng vào những khi hành quân, quân lính của các đế quốc này được lệnh tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái, cướp của, giết người bừa bãi, đốt làng, đốt xóm, thiêu hủy mùa màng, thiêu rụi miếu đình, phá hủy chùa chiền và tất cả các nơi thờ tự thiêng liêng khác của người dân trong vùng mục tiêu. Đây là chủ trương của Vatican. Trong những năm 1945-1954, người viết đươc chứng kiến những tóan lính đạo của Xóm Đạo Trại Táo, thuộc xã Tô Công, huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình (trước năm 1945 gọi là tổng Tô Xuyên và bây giờ gọi là xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ) cũng hành động dã man và khốn nạn như vậy vào những khi chúng hành quân tiến vào các làng lương bên cạnh là các làng Tô Đê, Tô Hồ, Tô Xuyên, Tô Đàm, Tô Trang và Tô Hải. Mấy năm gần đây, khi xem cuốn phim Chiến Tranh Việt Nam – Những Điều Chưa Biết do tác giả Daniel Costelle biên soạn và do Isabelle Clarke đạo diễn (có thể liên lạc với Viet Nam Films, điện thọai số (714) 555-2515 để mua), người viết được nhìn thấy rõ quân lính Mỹ và quân lính của chính quyền miền Nam cũng có những hành động tàn ngược và dã man như vậy. Trong cuốn Hell In A Very Small Place – The Siege Of Dien Bien Phu (nói về trận đánh Điện Biên Phủ,) tác giả Bernard B. Fall cũng ghi nhận những người lính Việt Nam trong quân đội Liên Hiệp Pháp cũng như quân lính và nhân viên chính quyền bù nhìn Bảo Đại cũng có những hành động tàn ngược và dã man như vậy. Dưới đây là một đoạn văn trong cuốn sách này nói về những hành động ghê tởm của những người tự nhận là người Việt Quốc Gia trong thời Kháng Chiến 1945-1954i : “Quân lính Việt Nam (lính Bảo Đại) trong cuộc thử lửa đầu tiên (ở Liên Khu V) hoặc là đã có những thành tích tồi tệ hoặc là cướp đoạt của cải. Theo sau là các viên chức hành chánh đổ tới vùng mới chiếm được lại cò tệ hơn cả đám quân lính (Liên Hiệp Pháp)” [“The Vietnamese troops who were to receive their baptism of fire in the beachhead either gave a poor account themselves or settles down to looting. The Vietnamese civil administrators who began to pour into the newly liberated areas were, if anything, worse than the military units.”[9]] Có người cho rằng sở dĩ chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican có chủ tâm để cho quân lính hành động tàn ngược và dã man như vậy là vì đó là chính sách ưu đãi hay tưởng thưởng quân lính nhằm để khích lệ chúng hăng say chiến đấu cho tham vọng đế quốc bất chính đại gian đại ác của họ. Vốn là đồng minh khắng khít với các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Bỉ và Mỹ từ đầu thế kỷ 16 (tùy theo từng thời kỳ và tình hình thế giới), Vatican đương nhiên là một thế lực cùng một giuộc với các đế quốc thực dân xâm lược này. Các nhà sử học đều khẳng định rằng, khi các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Bỉ và Mỹ chưa ra đời, thì Vatican đã có chính sách ưu đãi quân lính dưới quyền và giai cấp tu sĩ như vậy vào khi xua quân tấn công các dân tộc ở vùng Trung Đông và ở miền Nam nước Pháp từ cuối thể kỷ 11. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng chính sách ưu đãi quân lính và giai cấp tu sĩ áo đen của giáo hội bằng cách để cho chúng tha hồ hãm hiếp đàn bà con gái, cướp của, giết người bừa bãi, đốt làng, đốt xóm, thiêu hủy mùa màng, thiêu rụi miếu đình, chùa chiền và tất cả các nơi thờ tự thiêng liêng khác của người dân trong vùng mục tiêu là chủ trương của Vatican. Phần trình bày trên đây cho thấy rõ là bất kỳ quân đội xâm lăng nào có liên kết với Vatican hay có sự hiện diện của tín đồ Ca-tô ở trong đó cũng đều có những hành động tàn ngược và cực kỳ dã man, đặc biệt là ác tính hãm hiếp đàn bà con gái, vì đây là chủ trương và cũng là chính sách ưu đãi quân lính trong các đoàn quân thập tự chiến đấu cho tham vong thống trị tòan cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican. Chính sách dã man này đã được Vatican thi hành triệt để từ thế kỳ 4 cho đến ngày nay. Cái đặc tính tham tàn và man rơ này của Vatican cũng đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Chương 13 (http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_13b.php) của tập sách này, và Chương 8, Phần II, sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã (http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH08.php) Vốn đã có chủ trương và chính sách ưu đãi quân lính như vậy, tất nhiên là đối với giai cấp tu sĩ áo đen, những cán bộ mẫn cán và trung thành nhất, Vatican cũng phải thi hành chính sách ưu đãi này đối với họ, và chính sách này là bất di bất dịch. Chính vì thế mà cả Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) và đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI (2005 -) đều chủ trương: 1.- Nuông chiều, dung dưỡng, bao che cho giai cấp tu sĩ cứ việc tiếp tục tận hưởng cái thú vui “hãm hiếp các trẻ em vị thành niên” và “dụ dỗ nữ tín đồ” cùng “hiệp thông cầu nguyện” với các ngài trong những cuộc “đi mây về gió” để cùng sản xuất con hoang, và 2.- Bảo vệ các ngài nếu chẳng may bị gia đình nạn nhân hay quần chúng phát hiện “các ngài” hiện nguyên hình thành những tên “hắc y dâm tặc”. Bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này là gần đây nhất cả hai Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) và đương kim Giáo Benedict XVI đều ra lệnh cho các giám mục có thẩm quyền liện hệ phải giữ kín, không được báo cáo cho chính quyền thế tục biết rõ hồ sơ tội ác của các “ngài đại diện Chúa” đã bị cáo buộc về tội ác hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ. ● Bằng chứng bao che thứ nhất là bản tin có nhan đề là ”Vatican Đã Cảnh Cáo Các Giám Mục Ái Nhĩ Lan Không Được Báo Cáo Lạm Dụng Tình Dục…” với mấy đoạn chính yếu như sau: “DUBLIN – Một lá thư năm 1997 từ Vatican cảnh báo các giám mục của Ái Nhĩ Lan không được báo cáo cho cảnh sát biết tất cả trường hợp nghi ngờ việc lạm dụng trẻ em – một tiết lộ mà nhóm các nạn nhân mô tả là “bằng chứng không thể chối cãi” cần thiết để chứng minh giáo hội đã thực thi trên toàn thế giới một nền văn hóa bao che tội ác của các linh mục ấu dâm.”. Nguyên văn: “DUBLIN – A newly revealed 1997 letter from the Vatican warned Ireland’s Catholic bishops not to report all suspected child-abuse cases to police — a disclosure that victims groups described as “the smoking gun” needed to show that the Vatican enforced a worldwide culture of cover-up.” [10] “Lá thư có ý nghĩa quốc tế rất lớn, bởi vì nó cho thấy ý định của Vatican là để ngăn chặn báo cáo lạm dụng cho các cơ quan hình sự. Và nếu sự hướng dẫn ấy được áp dụng ở đây thì nó đã được áp dụng ở khắp mọi nơi,” Colm O’Gorman, giám đốc phân hội Ái Nhĩ Lan của cơ quan giám sát nhân quyền Ân xá Quốc tế nói.”[11] ● Bằng chứng bao che thứ hai là đoạn văn sử dưới đây nói về việc làm bất chính và gian ác này của đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI với nguyên văn như sau: “Năm 2001, Giáo hoàng Bê-nê-đích đã viết một thư luân lưu gửi cho tất cả các Giám mục Công giáo để ra lệnh giữ “Bí mật cấp độ Giáo hoàng” về những tố cáo liên quan đến lạm dụng tình dục trẻ em. Ông đã ra lệnh cho các Giám mục phải gửi tất cả những hồ sơ đó về La-Mã, vậy thì ý kiến cho rằng ông không biết gì về chuyện linh mục loạn dâm qủa là một sự vô nghĩa lý. Lá thư nầy của ông không đề cập gì đến chuyện các Giám mục phải báo với cảnh sát về các kẻ lạm dụng tình dục nầy. Nhà thần học Công giáo đáng kính, ông Hans Kung đã nói là Giáo hoàng phải cùng chịu trách nhiệm về sự che dấu và Giáo hoàng Bê-nê-đích đã không có lời xin lỗi về sự thiếu sót của chính ông trong cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục các trẻ em.” [12] Cũng vì có chính sách ưu đãi đặc biệt giai cấp tu sĩ như vậy, nhưng lại tàn ngược và dã man đối với các nạn nhân cũng là tín đồ của giáo hội, cho nên Vatican mới biên soạn những lời dạy lưu manh và khốn nạn như đã nói trong Mục A4 ở trên để cấy vào đầu óc tín đồ. Những lời dạy lưu manh này quả thật đã trở thành những bức tường thành kiên cố (1) vừa che đậy hàng rừng những chuyện sai lầm, hoang đường, huyễn hoặc, láo khoét, loạn luân, phi luân, dâm loạn, tham tàn, gian ác và dã man trong kinh thánh, (2) vừa để làm bức màn nhung che kín những rặng núi tội ác chống lại nhân loại, chống lại những phát minh khoa học, chống lại tư tưởng tiến bộ của các tôn giáo và nền văn hóa khác trong gần hai ngàn năm qua, và (3) vừa để làm những cái khóa để khóa miệng tín đồ không được hé miệng bàn tán những chuyện “các ngài đại diện Chúa” về những hành động tội ác sống đời bê bối, thối tha, loạn luân, lọan dâm, hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ như các cơ quan truyền thông quốc tế loan truyền từ đầu năm 2002 cho đến nay. Hệ Lụy Của Việc Vatican Dung Dưỡng Và Bao Che Nạn Loạn Dâm: Vì được bảo vệ bằng những lời dạy lưu manh như nói ở trên, giai cấp tu sĩ của Vatican càng được thể, càng lộng hành, càng tác oai tác quái, càng triệt để lợi dụng và khai thác tận tình lời dạy “Những gì Cha nói và hành động là Cha nói và hành động theo ý Chúa“ để mê hoặc con mồi “nai tơ” hầu thỏa con heo lòng khi lên cơn rửng mỡ. Sau khi đã thỏa mãn rồi, các ngài lo sợ nạn nhân của các ngài sẽ tiết lộ việc làm ô nhục này, các ngài chỉ cần nhắc nhở cho nạn nhân nhớ lại lời dạy của giáo hội rằng, “Bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu các Cha, tức là bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu Chúa và sẽ Chúa trừng phạt đày xuống hỏa ngục đời đời”.và “Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết”. Ngọai trừ một vài trường hợp đã xẩy ra bất như ý, từ ngàn xưa lời hù dọa này của Vatican đã giúp cho các ngài “đại diện Chúa” làm cho nạn nhân khiếp sợ mà phải giữ kín miệng, không còn dám hé môi nói cho người ngọai cuộc được biết. Câu chuyện “Chúa đã chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!” là chuyện có thật trăm phần trăm đã xẩy ra ở Mỹ. Chuyện này đã được các cơ quan truyền thông loan truyền. Sách Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa ghi lại như sau: “Đối với những thiếu niên của những gia đình ngoan đạo thì các tu sĩ Công Giáo luôn luôn được chúng coi là những người thánh thiện (holy men) và có uy tín hơn cả cha mẹ của chúng. Khi bị các tu sĩ lạm dụng tình dục, chúng không dám về mách cha mẹ vì sợ bị cha mẹ la mắng hay trừng phạt. Năm 1992, một số nhà tâm lý học đã phỏng vấn 15 em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana bị tu sĩ lạm dụng tình dục. Các em cho biết đã không dám tố cáo vì bị các linh mục hăm dọa: “Nếu tố cáo sẽ bị Chúa đầy xuống hỏa ngục” hoặc “mày phải câm miệng, nếu không, quỷ sẽ bắt mày!” Mấy bé gái bị linh mục sờ mó đã khai: “Cha nói Chúa đã chọn con để giúp cha biết cái đó thế nào!” Trong chương này có một chuyện đáng chú ý. Đó là chuyện của Cristine Clark thuộc giáo phận Joliet, Illinois. Lúc cô lên 7 tuổi, đi học lớp giáo lý để rước lễ lần đầu thì cô đã bị cha xứ là Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó. Năm cô 14 tuổi, cô bị cha xứ dạy cách thủ dâm cho ông ta. Năm 18 tuổi, cha xứ giao cấu với cô. Lúc này cô tỏ ra rất lo lắng vì sợ tội. Cha khẳng định giao cấu với cha không có tội vì đó là ý Chúa. Sau đó, Cristine không thể chịu đựng được nữa nên nói với cha mẹ ý định tố cáo nội vụ trước cảnh sát. Linh-mục Ed Stephanie thấy nguy nên trình sự việc với Tòa Giám Mục Joliet. Tòa giám mục này cho người đến trao cho gia đình Cristine số tiền 450 ngàn đô-la để mua sự im lặng. Cristine ký giấy cam kết không tố cáo vào ngày 15/4/1988,. Tuy nhiên, Linh-mục Ed Staphanie bị nhiều người khác tố cáo nên bị cảnh sát bắt vào mùa thu năm 1992.” [13] Theo dõi tin tức do các cơ quan truyền thông quốc tế loan truyền, quý vị sẽ thấy không phải chỉ có Linh-mục Ed Staphanie hiện nguyên hình thành một tên hắc y ác quỷ, mà đã có rất nhiều giám mục và linh mục đã trở thành những con quỉ dâm tặc như thế. Theo các tài liệu thống kê cho biết, trong mấy chục năm gần đây, chỉ riêng ở Hoa Kỳ, đã có tới 4,392 giám mục và linh mục biến thành những “hắc y dâm tặc” như vậy. Đọan văn dưới đây là bằng chứng cho sự kiện này: “Theo bản sưu khảo thời gian từ năm 1950 cho đến năm 2002, có tới 4,392 vị hay 4% trong số 109,694 các ngài đại diên Chúa ở Hoa Kỳ đã bị cáo buộc về tội lạm dụng tình dục. Một vài vùng, tỉ lệ này cao hơn các vùng khác. Tổng số đối tượng nghiên cứu là 10,667 vụ trong 52 năm như đã nói như trêni, 17% nạn nhân của các ngài nói rằng anh chi em của họ cũng bị các ngài “xơi tái” như họ.Tính theo giới hạn bản nghiên cứu này, trung bình, mỗi năm ở Hoa Kỳ có tới 240 vụ, vào năm bắt đầu nghiên cứu là năm 1950 có 50 vụ, và cao nhất vào năm 1979, có tới 775 vụ, rồi lại giảm xuống dưỡi 50 vào năm 2002.” [14] Bản văn trên đây chỉ nói về các linh mục Ca-tô Rô ma người Hoa Kỳ mà thôi. Riêng về các ngài đại diện Chúa người Việt, Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn cũng đã nêu đích danh những quí ngài đã trở thành “dâm tặc” ở trong hai tờ Tận Thế số Ra Mắt phát hành ngày 15/6/2002 và Số 2 phát hành ngày 15/7/2002, Trong số Ra Mắt ngày 15/6/200, nơi trang 27, Linh-mục Sơn viết: “Những ai đã biết, đọc và nghe về những ác quỉ dưới đây mà còn cố tình bênh vực, bao che, ủng hộ, ca tụng và đi xem lễ do chúng làm, sẽ bị Đức Mẹ nghiêm khắc trừng phạt:. A.- Nhóm ác quỉ thuộc Phụ tỉnh DCCT/VN hải ngoại: (Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hải ngoại): Nguyễn Đức Mầu, Châu Xuân Báu, Vũ Minh Nghiễm, Đinh Ngọc Quế, Nguyễn Văn Phan, Phạm Quốc Hưng, Nguyễn Tất Hải, Đinh Minh Hải, Phan Phát Huồn, Nguyễn Trường Luân, Trần Ngọc Bích, Nguyễn Đức Thành, Bùi Quang Tuấn, và thầy bẩn moi và quịt: Nguyễn Văn Mới. B.- Nhóm ác quỉ thuộc giáo phận Los Angeles: Trần Công Nghị, Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Quang Hòa, Lê Sơn Hà, Chu Quang Minh, Vũ Thế Toàn, v.v… C.- Nhóm ác quỉ thuộc giáo phận Orange County: Nguyễn Đức Tiến, Mai Khải Hoàn, Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Ngọc Tuấn, Chu Vinh Quang, Nguyễn Văn Luân, Đỗ Thanh Hà, Vũ Tuấn Tú, Ngô Văn Trọng, Mai Thành Hân, Xuân Nguyên Hồ, Trần Văn Kiểm, Đinh Viết Thục, Bùi Công Minh, Nguyễn Trọng Tước, tức Nguyễn Tầm Thường, v.v… D.- Những ác quỉ ở nhiều nơi: Đinh Đức Đạo (Đức Ông giám đốc văn phòng thờ quỷ Rôma), Phan Tấn Thành (giáo sư thờ quỉ Rôma), Cao Minh Dung (Đức Ông, nhân viên Bộ Ngọai Giao tòa… quỷ!), Nguyễn Văn Phương (Chủ Tịch Liên Đoàn thờ Qủy, Riverale, Georgia) Lê Xuân Thượng (Đức Ông thờ quỷ cái Trần Thị Liễu, (Houston, Texas), Đào Quang Chính (Houston, Texas), Nguyễn Ngọc Tư (Houston, Texas), Nguyễn An Ninh (Eastpointe, MI), Hoàng Xuân Nghiêm (Tổng Thủ Quỹ Liên Đoàn Thờ Quỷ, (Wyoming, MI), Phạm Văn Tuệ, Trần Cao Tường, Vũ Hân (Marrero, LA), Việt Châu (Chủ Nhiệm Nguyệt San Thờ Quỷ, Gretna, LA), Nguyễn Đức Huyên (Giám Đốc đền thờ Quỷ), Nguyễn Văn Dậu (giáo sư thờ Quỷ, Metairie, LA) Phạm Quốc Hùng (Wichita, KS), Phan Đình Cho (Gíao-sư đại học thờ quỷ, Washington DC), Nguyễn Thanh Long (Silver Spring, MD), Trần Quí Thiện (Arlington, VA), Nguyễn Huy Quyền (Glen Ellyn, IL), Trịnh Thế Hùng (Chicago, IL), Đỗ Quang Biên (hưu trí thờ quỉ cái: Mầu, San Diego, CA)… (Còn tiếp với vô vàn vố số ác quỉ nằm trong Chi Dòng Đồng Công ở Carthage, MO, đã lợi dụng Đức Mẹ để làm tiền trắng trợn từ 24 Đại Hội Thờ Quỷ Mammon, đã qua, và Đại Hội thứ 25 sắp tới. Chính Đức Mẹ sẽ đánh tan đại hội bịp này.)” Mẹ mang nhãn hiệu rỗng tuếch: “Sống Tin Giữa Dòng Đời”, trên đài Little Sàigon.” [15] Trong tờ Tận Thế Số 2, nơi trang 31, Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn viết: ” Thật không ngờ một linh mục bệnh hoạn có thể trở thành một con người viết những điều mạnh mẽ như vậy, đó là chửi thẳng vào mặt ác quỷ Nguyễn Đức Mầu, kẻ dơ bẩn đã ăn nằm với không dưới 100 đàn bà mất nết từ Việt Nam sang tới Hoa Kỳ (đọc Thư LM Nguyễn Thanh Sơn gửi Cha Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở Roma, trong “Quyền Năng Đức Mẹ Diệt Trừ Satan III”) và ác quỷ Trần Công Nghị, kẻ dâm thú cũng đã “ăn nằm” với hàng trăm đàn bà hư đốn trên 35 năm qua, từ Việt Nam sang Roma, tới Hoa Kỳ, trong số đó có hai (2) ma nữ lõa lồ: CAO THỊ MỸ LỆ (từ năm 1975 tại Portland, Oregon), con gái Cao Đăng Tường, cháu “yêu dấu” của Cao Đăng Minh, Dòng Chúa Cứu Thế (tên này cũng đã có con trai khôn lớn), và hiện nay đang ăn nằm với “con điếm nhớp nhúa nhất thủ đô tỵ nạn)” là DIAMOND BÍCH NGỌC. Đôi song ca đã và đang hát rất mùi với nhau, trong chương trình lứa đôi Thiên Chúa và Đức Mẹ mang nhãn hiệu rỗng tuếch: “Sống Tin Giữa Dòng Đời”, trên đài Little Sàigon.” [16] Xin quý vị độc giả tại các địa phương của các “đại diện Chúa” được nêu đích danh trong hai bản văn trên đây có thể kiểm chứng xem những hành động và tư cách của họ có như Linh-mục Nguyễn Thanh Sơn đã tố cáo hay không. Tại tiểu bang Washington và Oregon nhiều người đã nhìn thấy rõ sự thật về linh mục Cao Đăng Minh quả thật là thần sầu quỷ khốc. Một độc giả ở New Orleans, Louisiana cũng cho biết sự thật kinh khủng về ông lãnh chúa áo đen Việt Châu. Các ông mang sắc phục áo chùng thâm Trịnh Thế Hùng ở Chicago và Đào Quang Chính ở Houston, Texas cũng đều được dân chúng tại đia phương biết rõ thành tích kinh tởm của họ. Đặc biệt là ông linh mục Nguyễn Hữu Dụ đã bị cảnh sát Houston (Texas) bắt gặp tại trận khi Ngài đang làm tình với nữ tín đồ Ng. T. V. (khẩu dâm: đưa cán cân tạo hóa vào miệng của người tình) ở một nơi công cộng (bãi đậu xe) vào ngày 14/12/1994. Nội vụ bị đưa ra Tòa án Harris County (Houston) mang số case number 945013. Trong phiên xử đầu tiên (21/12/1994) tòa ấn định số tiền bail (tại ngoại hầu tra) là 4 ngàn Mỹ kim. Đương sự bị phạt một ngàn Mỹ kim sau phiên xử lần thứ 2 (ngày 1/2/1995.) Điểm đặc biệt là vào thời điểm khi hành dâm như vậy, đương sự đã xấp-xỉ 75 tuổi (sinh ngày 20/3/1920). Có người cho biết khi bị đưa ra tòa, Ngài “đại diện Chúa” này đã có với bà V. một đứa con gái 16 tuổi. Với tình trạng được cơ quan đầu não của Giáo Hội La Mã là giáo triều Vatican chủ tâm nuông chiều, dung dưỡng, bao che các ngài “hành lạc” vô tội vạ, rồi lại tích cực bảo vệ các ngài dù là các ngài đã bị nạn nhân tố cáo là hiện nguyên hình thành những “con quỷ dâm tặc” như vậy (bất chấp cả luật pháp của chính quyền thế tục tại địa phương), thì nạn nhân, thân nhân của các nạn nhân và nhân dân dưới quyền thực sự là rơi vào tình trạng tuyệt vọng, không còn biết trông cậy vào đâu để đem những thằng “ác quỷ áo đen” đã bị cáo buộc này ra trước ánh sáng công lý hầu đòi lại công đạo cho nạn nhân. Tình trạng bất công, ngang ngược, chà đạp lên nhân quyền và hành động trịch thượng của Vatican bất chấp cả luật pháp của các chính quyền thế tục đia phương như vây đã khiến cho nhân thế giới vô cùng bất mãn, vô cùng bức xúc, và muốn phải làm một cái gì để cho tình trạng này không còn có thể tiếp tục xẩy ra được nữa. Cũng vì thế mà ngày 25/1/2011, qua các diễn đàn thư nhóm, ông Tuấn Phan (ddpghh@yahoo.com) mới đưa ra một đề nghị như sau: “Từ lâu, tôi đề nghị với Giáo Hòang, Tăng Thống (*) đề ra luật khắc khe dành cho giới Tu Sĩ: Muốn làm Cha làm Thầy thì buộc phải DỨT CỦA NỢ, tức cái lủng lẳng, đeo đẳng suốt cuộc đời. Dứt của nợ sẽ có hai tác dụng lớn: Về Đạo: Chứng tỏ Quyết Tâm làm môn đồ, đệ tử của Chúa và Phật, ban rãi Chánh Đạo cho thế gian, chọn nghề tu hành là lẽ sống cho tới…chết! Về Đời: Ngăn ngừa được tiếng xấu xa trong Phật môn và Chúa môn, bảo vệ được tiết hạnh của giới nữ tín đồ. Tránh cho Giáo Hội hay tu sĩ đền số tiền lớn, hay bị tù. Chi phí: Tính ra không hơn 100 đô la cho cuộc giải phẫu dứt của nợ. Nếu làm “đại trà” thì chi phí càng ít hơn nhiều. Trường hợp tu sĩ nữ thì sao? Áp dụng cách của các bộ lạc Phi Châu dành cho con gái của họ. Lưu Ý: Chỉ dứt của nợ với sự tự nguyện của đương sự lúc được 18 tuổi và over!!! -Tuấn Aet Phan TB: (*) Tăng Thống là chức vị bị bọn Giặc Thầy Chùa GH/PGVNTN chôm, tự phong dựa theo nguồn gốc lịch sử Phật Giáo. 4 triệu đô hơn là cái giá sờ bóp của GTC thích Chánh Lạc, Chủ Chùa Như Lai ở Denver, CO.” [17] Nhận xét: Bên Phật giáo xưa nay không hề có thế lực hay tổ chức toàn cầu nào nuông chiều, bao che và bảo vệ các nhà tu hành như trong hệ thống tu sĩ Ca-tô Rô ma giáo. Trái lại, danh dự của các tu sĩ Phật giáo trực tiếp nằm trong tay cư dân bản địa. Đó là cách chế tài tự nhiên và hữu hiệu từ ngàn xưa đến nay. Do đó, nếu có chuyên một nhà tu hành nào biến thành một “con quỷ dâm tặc” như trước hợp nhà sư Thích Chánh Lạc ở Colorado thì đó chỉ là chuyện riêng của cá nhân của “ông sư hỏ mang này” mà thôi và chính ông ta sẽ bị Phật tử ở tại địa phương tẩy chay, chứ không có quyền lực nào đem ông ta đến nơi khác và giúp đỡ để cho đương sự được tiếp tục hành nghề và tiếp tục biến thành “dâm tặc” tác oai tác quái gây nguy hại cho xã hội như “giới quạ đen” của Giáo Hội La Mã. Vì vậy mà người viết xin MIỄN không bàn đến vấn đề này bên Phật giáo.. Riêng về phía Ca-tô Rô ma giáo, thiết nghĩ rằng, “thiến“ là một biện pháp phòng ngừa rất hữu hiệu đúng như nhà cách mạng John Dickinson (1732-1808) người Mỹ đã nói: “Ai là người (được) tự do? Những người (được) tự do? Không phải là những người mà chính quyền của họ hợp lý và công bằng, mà là những người mà chính quyền của họ bị kèm chế và kiểm soát đến nỗi không thể làm gì khác hơn là làm gì thì cũng phải làm sao cho hợp lý và công bằng.” (Who are free people? Not those whose government is reasonable and just, but those whose government is so checked and controlled that it cannot be anything but resonable and just”) [18] Thế nhưng, biện pháp “thiến” của ông Tuấn Phan vừa có tính cách tàn bạo và phản nhân quyền, vừa không thể nào thực hiện được. Không thể thực hiện được là vì hầu hết các quốc gia hoặc là quyền lực của Vatican đứng trên quyền lực của chính quyền thế tục, họăc là chính quyền nằm trong tay của các nhà chính khách tính chuyện mị dân kiếm phiếu của các nhà thờ Ca-tô trong các kỳ bầu cử, cho nên không dám hiên ngang đứng thẳng người lên để đối đầu với Vatican (như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, Phi Luật Tân từ thế kỷ 16 cho đến nay, v.v…) . Trong khi đó thì chỉ có giáo hoàng hay Tòa Thánh Vatican mới có quyền lực làm như vậy. Nhưng khốn nỗi, chính Tòa Thánh Vatican lại có chủ trương nuông chiều, dung dưỡng, bao che và bảo vệ cho những thằng “dâm tặc áo đen” khốn nạn này để cho chúng cứ tiếp tục ngang nhiên tác oai tác quái như thế. Điều này chứng tỏ rằng đề nghị của ông Tuấn Phan sẽ không thể thực hiện được. Tuy nhiên, dù sao thì đề nghị này cũng nói lên tiếng nói bức xúc và căm phẫn của người dân (1) đối với Vatican đã có chủ trương khốn nạn như vậy) và (2) đối với bọn “dâm tặc áo đen” (đã lợi dụng cái danh nghĩa “đại diện Chúa” để hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ. Người viết tôi trộm nghĩ đến một đề nghị khác có thể bảo vệ thanh thiếu niên nếu mọi người thực sự muốn diệt ác, phù thiện. Nếu đồng ý, chúng ta phải làm như thế này: Ở ngay những nơi nào có một hay nhiều thằng “dâm tặc áo đen” cư ngụ hay thường lui tới, chúng ta hãy đồng lòng dựng (cắm) một tấm biển lớn viết rõ ràng một dòng chữ đại khái như sau: “Trẻ em vị thành niên và chi em phụ nữ hãy coi chừng! Ở đây có bọn ‘hắc quỷ dâm tặc”. Mong lắm thay! F.- Tình Trạng Lọan Luân, Dâm Lọan Trong Giáo Triều Vatican Và Trong Giới Tu Sĩ Ca Tô” Sách sử cho thấy rằng, các giáo sĩ Ca-tô hay các ngài “đại diện Chúa” không những mang chứng bệnh ưa thích hãm hiếp các trẻ em vị thành niên và nữ tín đồ, mà còn mang chứng bệnh loạn luân, nhiều khi các ngài còn đè cả mẹ ruột của các ngài ra để hành lạc vào những khi các ngài rửng mỡ hay không kìm hãm được con heo lòng của các ngài. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ cái tính cách “ đạo cao đức trọng” và “rất thánh thiện” của các ngài trong nếp sống văn hóa Ki-tô giáo cao quý của xã hội của những người “được Chúa chọn”: Giáo Hoàng Alexander II “Năm 1064, một giáo sĩ xứ Orange ở Pháp đã thông dâm với người vợ thứ hai của thân phụ ông ta. Giáo Hoàng Alexander (1061-1073), không những đã không bãi chức của ông giáo sĩ này, mà vẫn còn để cho ông ta tiếp tục rước lễ. Ngài cho rằng ông giáo sĩ này đã không phạm tội có gia đình chính thức. Hai năm sau, một giáo sĩ ở Padua thú nhận là đã loạn luân với người mẹ ruột. Giáo Hoàng (Alexander) đã đối xử rất tử tế với ông giáo sĩ này và để mặc cho ông giám mục quản nhiệm địa phương tùy ý quyết định nên hay không nên để cho ông ta tiếp tục phụng vụ. Đối với Giáo Hoàng Alexander II (1061-1073), thông dâm hay loạn luân vẫn còn thích hơn là có một giáo sĩ chính thức có gia đình.” [19]. Đồng thời, vào thời còn có quyền lực chính trị ở trong tay, Tòa Thánh Vatican còn có chủ trương cấp giấy phép cho tín đồ mở “nhà chứa” để thu thuế, lấy tiền chi phí cho cuộc sống hoang đàng, ăn sài huy hoắc của các ngài. Đây là sự thực và sự thực này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Vicars of Christ viết: “Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) can tội loạn luân (incest) ăn ở với chị (em) gái sinh ra đứa con trai tên là Pietro Riario và cũng là giáo hoàng đầu tiên cấp giấy hành nghề mở “nhà chứa” (nhà thổ)) tại Kinh Thành La Mã. Nhờ vậy mà mỗi năm, ông thu hoạch được 30 ngàn tiền ducats. Ông cũng thâu hoạch được những khoản tiền khá lớn bằng cách đánh thuế các tu sĩ nào muốn công khai sống với tình nhân (bạn gái). Tệ hơn nữa, ông còn làm tiền bằng cách bán giấy phép cho các ông nhà giầu được quyền “an ủi” các bà có chồng xa nhà, v.v…”[20] Tình trạng này khiến cho người dân dễ dàng hiểu rằng “nhà chứa” cũng là “Nhà Chúa” và “nhà thổ” cũng là “Nhà Thờ”. Song song với những việc làm hủy hoại văn hóa của xã hội loài người như trên, Tòa Thánh Vatican còn cho thiết lập thật nhiều dòng nữ tu và biến các dòng nữ tu này thành những “trung tâm hành lạc” để cho “các ngài đại diện Chúa” lui tới đi vào cõi mộng hưởng thụ những phút thần tiên“chơi vơi trên đỉnh tuyệt vời”. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Biết rõ chuyện này không ai bằng giới giáo sĩ Ki-tô. Cựu giáo sĩ Peter de Rosa ghi lại chuyện này như sau: “Tình trạng nam nữ chung chạ bừa bãi lan tràn trong khắp các nam và nữ tu viện. (Thánh) Ivo Chartre (1040-1115) cho biết toàn thể các nữ tu viện chỉ là những nữ tù nhân mang danh là “các dì phước” mà thôi. Họ thường là những đứa trẻ bị gia đình bỏ rơi và thực sự đã trở thành những cô gái điếm.” [21] “Trong thế kỷ thứ 9, nhiều tu viện là những sào huyệt của những người đồng tình luyến ái; nhiều nữ tu viện là những ổ điếm (nhà thổ) nơi mà những trẻ sơ sinh đều bị giết rồi đem chôn ở ngay trong đó. Các sử gia nói rằng từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ, Tây Phương không giết các trẻ sơ sinh nhiều như vậy, ngoại trừ ở trong các nữ tu viện. Hội Nghị nhóm họp ở Aix- la- Chapelle vào năm 836 đã công khai thú nhận điều này. Về phần các ông tu sĩ Gia-tô thèm khát làm tình (giải quyết vấn đề sinh lý), họ thường bị tố cáo về tội ác loạn luân đến nỗi rằng họ bị cấm không được ở cùng nhà với mẹ, cô hay dì và chị em gái của họ. Những trẻ sơ sinh do hậu quả của các vụ loạn luân thường bị chính các ông tu sĩ giết chết. Con số này rất nhiều và đã được một vị giám mục người Pháp ghi vào hồ sơ. tài liệu.” [22] Cũng nói về đời sống loan luân, dâm loạn cúa bọn “hắc y dâm tặc” này, sử gia Jack T. Chick gọi bọn người lưu manh tự phong là “đại diện Chúa” đầu nậu trong giáo triểu Vatican là “Ổ Điếm Khải Huyền” (The deadly Roman Catholic Institution was the whore of Revellation”) [23] Đồng thời, sách Babylon Mystery Religion (Riverside, CA: Ralph Woodrow Evangelistic Association, Inc., 1981) của tác giả Ralph Woodroww dành hẳn Chương 12 (gồm các trang 91-99) với tựa đề là Papal Immorality, trong đó tác giả kể ra những màn kịch của trên dưới 20 giáo hoàng (“Đức Thánh Cha”) đại diện Chúa Kitô “ăn no rửng mỡ”, rồi “ấm cật dậm dật phao câu”, rồi thanh toán lẫn nhau bằng những thủ đoạn vô cùng kinh khủng mà tác giả cuốn sách này cho là “kinh khủng độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người” (sheer horror has never been duplicated in the annals of human history). Dưới đây là đoạn văn nói về sự thật ô nhục này: “Thêm vào những bằng chứng hiển nhiên cho chúng ta thấy rằng nhân cách và đức độ của rất nhiều ông giáo hoàng không xứng đáng đựợc gọi là giáo hoàng. Một số các ông giáo hoàng có những hành động hủ hóa, sa đọa, đê tiện và bỉ ổi đến nỗi ngay cả những người ngoại đạo cũng cảm thấy xấu hổ cho các Ngài. Các ông giáo hoàng thường hay phạm những tội ác như ngoại tình, làm tình một cách bất bình thường với đàn ông, bán thánh, hiếp dâm, giết người và say sưa tuý lúy. Những người thường cao rao là “Đức Thánh Cha”, là “Đ LikeLike
    Reply
  3. wanderer123

    Giờ nghe đến 2 từ giáo dân là phát ngán. Mấy ông thích thì xin nhà nước, họ sẵn sàng cấp đất mới cho xây cái gì thì xây. Việc đòi đất này rất phức tạp, vì nó không chỉ liên quan đến mình Thái Hà. Sau năm 54 và 75 chính quyền có sung công khá nhiều đất đai của tôn giáo và quan chức chế độ cũ. Bây giờ Thái Hà đòi được thì khắp nơi đâu đâu người ta cũng đi đòi, thế thì loạn cả nước. Mà đất đấy trước đấy cũng đâu phải của giáo xứ, trước đó là ngôi chùa Phật Giáo, sau thực dân Pháp xâm lược thì phá chùa xây nhà thờ. Phật giáo người ta còn chưa đòi thì giáo dân quyền gì mà đòi.
    Thêm nữa, luật pháp nước CHXHCN Việt Nam đã quy định đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước có toàn quyền quyết định việc sử dụng đất như thế nào, chứ chả có đất nào là đất nhà thờ cả. Hơn nữa xây trạm xử lý nước thải là phù hợp nhu cầu của toàn dân vùng đấy. Thích thì xin nhà nước cấp đất mới, đất đấy là đất của người Việt Nam nói chung chứ có phải của riêng giáo dân đâu mà đòi. Việc đòi đất, cầu nguyện này chỉ làm dân không theo đạo họ ghét thêm, vì suốt ngày cầu nguyện, biểu tình làm dân xung quanh không làm ăn gì được.

    Like

    Reply
  4. nguyenvn89

    Nói về tôn giáo, đạo:

    Tôn giáo đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng, hay thần thánh, và những đạo lý, tục lệ, và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.

    Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội .
    Theo đó, nhu cầu tín ngưỡng của người dân là cần thiết, tín ngưỡng là để tốt đời đẹp đạo, để xã hội phát triển, chứ không thể đi ngược lại những qui luật này được. Tín ngưỡng trong một quốc gia độc lập có chủ quyền và được pháp luật bảo vệ, tín ngưỡng phải luôn chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Ở Việt Nam hiện nay có 6 tôn giáo: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Đạo Tin Lành, Đạo Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo. Phật giáo và Thiên Chúa giáo là hai tôn giáo có tín đồ đông nhất hiện nay ở Việt Nam, Phật giáo có hơn 10 triệu tín đồ, Thiên Chúa giáo có khoảng 5,5 triệu tín đồ. Phật giáo được du nhập từ Châu Á, Thiên Chúa giáo được du nhập từ Châu Âu. Đối với Phật giáo, ngay khi được truyền vào, đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống người dân Việt Nam, người đi theo đạo phật là tự nguyện và xuất phất từ tâm, hướng thiện, mong muốn mọi việc tốt đến với mọi người. Đối với Thiên chúa giáo, du nhập vào Việt Nam hình thành và phát triển theo cách hiểu của cá nhân tôi thì đó là sự ép buộc, mục đích chính là thực hiện một mưu đồ chính trị nào đó, có thể nói là phản tự do tín ngưỡng. Để nói rõ suy nghĩ của các nhân tôi về nhận định trên, thông qua sự việc diễn ra trong cuộc sống.

    * Thiên chúa giáo truyền đạo trong cuộc sống:
    – Thời còn Trung học, ở địa phương tôi có một người đột nhiên đi theo đạo Thiên Chúa giáo, vì trong địa phương không có đạo gì ngoài đạo phật, trong khi những người trong gia đình anh này theo phật giáo, anh ta truyền đạo cho chúng tôi, anh ta thao thao bất tuyệt truyền đạo, khi chúng tôi hỏi, nếu chúng tôi theo đạo Thiên chúa thì chúng tôi được gì, anh ta giải thích:”Theo đạo Thiên chúa khi chết sẽ được đưa lên thiên đàng”, chúng tôi hỏi, có ai theo đạo Thiên chúa khi chết đã được lên thiên đàng hay chưa, và làm sao biết. Anh ta trả lời là đó là đức tin, con chiên phải nghe theo. Và anh nói, theo đạo Thiên Chúa thì chỉ từ lãi đến hòa vốn, giải thích cho việc này anh nói, lãi là nếu thực sự sau này chết nếu thực sự có được đưa lên thiên đàng là còn sung sướng gì bằng, còn không thì xem như hòa vốn, vì theo Thiên Chúa anh không mất gì, có chăng là mất thời gian đi nghe giảng đạo, đọc kinh thánh và xem nhu đó là việc giải trí trong thời gian rỗi.
    – Một thực tế nữa là, những thanh niên nam, nữ khi kết hôn phải là ngươi theo Thiên chúa, ví dụ: người con trai theo đạo muốn lấy người mình yêu là người theo đạo khác hoặc không theo đạo nào (lương giáo) thì người con gái đó buộc phải theo đạo Thiên Chúa và con gái theo đạo Thiên chúa, con trai muốn lấy làm vợ thì cũng theo luôn đạo Thiên Chúa.
    – Một số vùng cao, dân trí thấp truyền đạo bằng cách cho tiền, đi theo đạo là không phải làm gì cả, có chúa lo , chúa phát tiền sinh sống, nhiều gia đình đem bàn thờ ông bà, cha mẹ dẹp bỏ đưa cây thánh giá lên cúng tế.
    Như vậy, đạo Thiên chúa là đạo không tốt, tôi dùng từ không tốt là để mọi người suy nghĩ cho nó không tốt như thế nào thì tùy. Đạo thiên chúa là biểu hiện rõ nhất về vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, ép buộc người khác phải theo.

    Về những việc làm tốt của đạo Thiên chúa cho đất nước thì hầu như không có, chỉ có quậy phá, làm mất ổn định xã hội theo đúng bản chất của nó.

    * Đạo phật trong cuộc sống: Đa số người dân theo đạo Phật là tự nguyện, đạo phật gần gũi và phù hợp với đời sống bản chất của người Việt Nam. Đạo phật xuất phát từ tâm, thiện của con người, anh không theo đạo phật, không phải đến chùa nhưng trong tâm anh có thể phát nguyện hoặc suy nghĩ và làm việc thiện thì đó anh đã làm một việc mà Phật chỉ dạy.

    Về những việc làm tốt của đạo phật cho đất nước rất nhiều, đạo phật làm cho cuộc sống bình yên và phát triển.

    Tôi không phải là nhà nghiên cứu, nhà sử học, tôi là một công dân bình thường, những gì tôi viết chỉ là suy nghĩ của cá nhân tôi cảm nhận từ thực tế cuộc sống.
    Tôi cũng không theo đạo nào, có chăng tâm tôi lúc nào cũng hướng thiện, có rất nhiều người có tâm như tôi. Tôi chỉ theo đạo làm người, tôi là người Việt Nam, bổn phận của tôi phải góp phần bảo vệ và xây dựng Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chấp hành tốt Pháp luật của nhà nước. Đối với gia đình thì phải biết trên dưới, phải làm đúng đạo con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng và những người thân.

    Tôi đã đọc sách của GS Nguyễn Mạnh Quang và một số bài viết của những nhà sử học trong nước và trên thế giới (bản dịch), tôi càng thấy rõ bản chất của vatican và đạo Thiên chúa giáo.
    Hồi còn đi học, tôi có nghe thầy giáo giảng về đạo Thiên chúa và đạo Tin lành, đạo Tin lành tách ra từ đạo Thiên Chúa. Với bản chất của đạo Thiên chúa, và những quy định khắc nghiệt của Công giáo. Máctin Luthơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy định khắc nghiệt của của Công giáo. Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyền thống của nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh của chúa, chủ trương cho phép các mục sư lấy vợ… Những tư tưởng cải cách này đã dẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Toà thánh Vaticăng và dẫn đến việc ra đời một tôn giáo mới : đạo Tin Lành. Khẩu hiệu của đạo tin lành là: Hãy đem tin lành đến cho mọi người. Và hai chữ Tin lành cũng thành tên chính của đạo này.

    hai tôn giáo lớn,

    Like

    Reply

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s