Đọc “Tuyên cáo đòi thả ngay và vô điều kiện tất cả tù nhân lương tâm tại Việt Nam” của ông Nguyễn Đan Quế, cùng danh sách một số người ký tên tự nhận mình là “cựu tù nhân lương tâm”, tôi thật băn khoăn và xin có đôi dòng góp ý về cụm từ “tù nhân lương tâm” mà quý vị đang dùng.

Về khía cạnh ngữ nghĩa, “tù nhân” là chỉ người đang bị giam giữ tại một nhà tù. Lương tâm là “nhận thức nội tâm của lẽ phải” – Ví dụ: lương tâm thầy thuốc; lương tâm cắn rứt (Đại Từ Điển Tiếng Việt, 1999). Về chức năng của lương tâm: lương tâm đóng vai trò như một quan tòa trong ta. Xưa nay thiên hạ vẫn nói “tòa án lương tâm”: mỗi khi ta làm 1 điều tốt đẹp, lương tâm khen thưởng ta, cho ta một niềm vui khôn tả. Mỗi khi ta làm 1 điều xấu, không hợp lẽ phải, lương tâm trách cứ ta, tố cáo ta và phạt ta bằng một nỗi buồn dai dẳng “lương tâm cắn rứt”, sự ray rứt này có khi đeo bám ta suốt đời, mỗi lần nhớ lại thì lại là một lần đau đớn, ân hận trong lòng, cho tới khi ” đền trả sòng phẳng” thì lương tâm mới yên. Như vậy, lương tâm có thể được hiểu như tiếng nói bên trong đầy quyền uy chỉ dẫn, thôi thúc con người ta làm những điều tốt, ngăn cản, chỉ trích làm những điều xấu. Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt. Trái lại khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản. Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận. Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phục và tiêu chí sống của con người.

Chưa có một khái niệm thống nhất về “tù nhân lương tâm”  (tiếng Anh là Prisoner of conscience). Nhưng đây  là một thuật ngữ được đặt ra bởi các nhóm đấu tranh cho nhân quyền thuộc Tổ chức Ân xá quốc tế trong đầu thập niên 1960. Thuật ngữ này đề cập đến bất cứ ai bị bỏ tù vì lý do chủng tộc, tôn giáo, màu da, ngôn  ngữ, xu hướng tình dục, niềm tin hay lối sống của họ, miễn là họ đã không sử dụng hoặc ủng hộ bạo lực.

Như vậy, giới hạn “Tù nhân lương tâm” không chỉ là những người đã bị cầm tù hoặc bị bách hại vì biểu lộ niềm tin theo lương tâm của họ bằng cách không bạo động. Đó chỉ là một phạm vi đối tượng nhỏ, hẹp của cụm từ này.

Như vậy, trong “Tuyên cáo đòi thả ngay và vô điều kiện tất cả tù nhân lương tâm tại Việt Nam”, các vị đòi trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm của Việt Nam, xem ra các vị đã đụng chạm đến phạm vi rất lớn, rất rộng, thuộc phạm trù nhân quyền, chứ không chỉ còn là đấu tranh cho tù nhân chính trị là diện đối tượng các vị muốn nhắm đến.

Trong đấu tranh chính trị, cụm từ này có nguồn gốc phát sinh từ bài báo “Các tù nhân bị bỏ quên” đã khởi đầu chiến dịch Lời kêu gọi cho Tổ chức Ân xá Quốc tế năm 1961, đối tượng hướng đến là đấu tranh cho bất kỳ người nào mà thân xác bị kiềm chế (do bị cầm tù hay cách khác) vì biểu lộ – dưới mọi hình thức của các từ ngữ hoặc ký hiệu – bất kỳ ý kiến mà họ quan niệm một cách trung thực và không ủng hộ hoặc chấp nhận việc bạo hành cá nhân” và “loại trừ những người đã âm mưu với một chính phủ nước ngoài để lật đổ chính phủ của chính họ”. Như vậy, tù nhân lương tâm còn hướng đến những người bị chính quyền kìm kẹp không chỉ bằng biện pháp tù đày mà bằng nhiều cách thức “linh hoạt” khác. Vậy thì các vị ký tên tự nhận mình là “cựu tù nhân lương tâm” có đúng không khi các vị vẫn đang thường trực đấu tranh với mọi hành vi bức hại từ chính quyền?

Xin có đôi dòng phi lộ, hoàn toàn không có ý châm chọc, công kích.

Nguyễn Quang