Người ta đã thống kê được rằng, cuộc đời một người đàn ông hầu hết gắn bó với chữ “ăn”.
Nghiên cứu 11. Khi còn bé thì “ăn học”,
2. Lớn thêm chút nữa thì “ăn chơi”
3
. Lúc có bạn gái thì chăm chăm tìm cách “ăn thịt”.
4. Ăn thịt xong thì phải “ăn hỏi” rồi “ăn cưới”, cưới về phải tiến hành “ăn nằm”.
5. Khi vợ đến kỳ sinh đành phải “ăn chay” hoặc “ăn vụng”,sau khi vợ sinh em bé thì phải “ăn kiêng”,về già rụng răng phải “ăn cháo”, xa thêm tí nữa thì theo các cụ mà “ăn xôi nghe kèn”… 

Nghiên cứu 2

1- Hồi nhỏ thì “ăn vóc học hay”, không được ba mẹ chiều thì “ăn vạ”
2- 
Lớn lên học đòi thì bắt đầu “ăn diện” để tán gái, nhưng “ăn nói bậy bạ” thì có khi “ăn bạt tai”
3- 
Khi đã có vợ, sau một thời gian “ăn nằm” thì có khi “ăn năn đã muộn” và nghĩ rằng mình phải “ăn đời ở kiếp” với người này thì xem như “ăn khế trả vàng” hay đúng là số “ăn mày”.
4-
 Khi “ăn nên làm ra” thì “ăn sung mặc sướng”, rồi sanh tật “ăn gian”, nói dối vợ là đi “ăn cơm khách” nhưng thực ra là đi ”ăn vụng” hay gọi là“ăn bánh trả tiền” với các cô gái “ăn sương”. Về nhà với vợ thì “ăn đàng sóng, nói đàng gió”; trót lọt thì không sao, rủi đổ bể thì có mà “ăn cám”hoặc “ăn đòn”.
5- 
Ngược lại, khi “làm ăn thất bại” thì đành “ăn mắm mút dòi”; thậm chí tán gia bại sản, buộc phải “ăn bờ ở bụi”.
6- 
Khi nắm quyền hành trong tay thì “ăn hiếp” kẻ thuộc hạ. Cậy thế “ăn trên ngồi trốc”, quen thói ”ăn to xài lớn” mà không có tài năng, tránh sao khỏi “ăn hối lộ” hay “ăn chặn”. Bị phanh phui, không chịu “ăn ngay nói thẳng” mà cứ “ăn thừa nói thiếu” để chạy tội.
7- Khi thất nghiệp thì sẽ có lắm điều tệ hại :
a. hơi tệ: “ăn không ngồi rồi”, “ăn theo”, “ăn bám”. “ăn hại” vợ.
b. khá tệ: “ăn quỵt”, “ăn bẻo”, “ăn bòn”.
c. quá tệ: “ăn trộm”, “ăn cắp”, “ăn cướp”
8-
 Khi cờ bạc (đánh cờ, đánh bạc), đang thắng lớn (xem như là vét sòng) bỗng đứng dậy ra về gọi là “ăn non”, không cho người ta cơ hội gỡ gạc. Thế nhưng, “ăn non” mà còn vênh váo, cười ngạo nghễ thì có khi “ăn đấm”, “ăn đá”.
9- 
Nhưng tệ nhất là loại ”ăn cháo đá bát” ====> Chí Phèo Bolsa.