CÂU CHUYỆN CHỐNG CỘNG Ở HẢI NGOẠI

Đã 36 năm qua nhưng trò bịp bợm làm tiền cũ rích của bọn gian nhân hiệp đảng bằng cách dựng chiêu bài chống cộng vẫn tiếp tục được sử dụng để móc túi đồng bào. Trong khi nhìn vào thực tế  hoạt động của tất cả những phong trào, tổ chức chống cộng chỉ là những tuồng tích bịp bợm chẳng mảy may tác dụng ngòai việc làm gìau cho những tên đầu trò. Trơ tráo nhất là bọn Mặt Trợn Việt Tân và đồng đảng của chúng. Năm trước hai tên Trần Quốc Bảo và Nguyễn Hữu Lễ đã giở trò kiếm chác qua trò bán DVD giới thiệu Cáo Gìa nhưng thất bại. Năm nay hai tên này lại “tối tạo” ra một cái gọi là Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc và bày trò lập chương trình phát thanh Đáp Lời Sông Núi để kinh doanh lòng ái quốc. Trần Quốc Bảo tên cúng cơm là Trần Ngọc Ngà của Tổ Chức Phục Hưng là một trong ba tổ chức hợp thành Mặt Trợn Kháng Chiến Bịp nhưng sau đó gỉa vờ tách ra để hoạt động riêng. Chỉ mấy năm qua Trần Quốc Bảo mới cấu kết với tên quạ đen Việt Tân Nguyễn Hữu Lễ  (Phong Trào đòi Trả lại tên Sài Gòn) chung lưng làm trò “bình mới rượu cũ” , nguỵ tạo ra thêm một tổ chức bịp bợm để gỡ gạc, kiếm chác. Vì thực tế 36 năm qua câu chuyện chống cộng ở hải ngoại đã được chỉ rõ trong bài viết dưới
Kim Âu

Hoa cây Thẩu
Hơn 35 năm qua, kể từ ngày những chiếc xe “tanks” của Bắc Việt húc đổ cánh cửa dinh Độc lập, bộ đội cộng sản cùng dép râu đạp nát Sài Gòn, sự nghiệp chống cộng của dân tộc Việt Nam đã đi vào con đường cụt. Tại quốc nội, ở một số điạ phương và ngay Sài Gòn đã mau chóng có những người không cam chịu thất bại, đầu hàng, quyết không đội trời chung với cộng sản đã tập hợp lại từng nhóm, rút vào rừng phát động kháng chiến; trong khi đại bộ phận quân cán chính của triều đình cũ rủ nhau ra trình diện để được đi “học tập cải tạo”.
Phần những người đã cong đuôi tháo chạy ra khỏi đất nước từ sớm, đến được xứ sở tạm dung Hoa Kỳ lúc đó hoàn toàn chỉ lo việc tìm kế sinh nhai để ổn định đời sống cá nhân và gia đình trên xứ người. Ý tưởng chống cộng lúc đó đã lụi tàn cùng với ảo mộng được phục hồi cấp bậc, chức vụ, quyền lợi trên nước Mỹ.
Trong khi đó, ở quốc nội những lực lượng kháng chiến tự phát vẫn tiếp tục duy trì cuộc kháng chiến một cách vô vọng. Nhiều nhóm kháng chiến đã hy sinh đến người cuối cùng trong hoàn cảnh “thế cùng lực kiệt” nhưng dứt khoát không đầu phục kẻ thù. Nhiều nhóm kháng chiến mới hình thành sau, tập hợp từ những người không chịu nổi sự kềm kẹp, câu thúc, đàn áp của “chuyên chính vô sản” đã rơi vào các tổ chức chống cộng do chính Việt Cộng dựng lên. Và khi những người yêu nước chân chính quốc nội đã nhận rõ thực tế bế tắc của cuộc đấu tranh vũ trang chống cộng ngay trong lòng cộng sản để chuyển hướng qua một hình thái đấu tranh mới thì tại hải ngoại lại bùng lên phong trào đấu tranh chống cộng với những tổ chức có tên rất nổ và rất kêu.
Thời điểm phong trào đấu tranh chống cộng trên các quốc gia có Người Việt Tỵ Nạn ở cách Việt Nam một đại dương nghìn trùng xa thẳm nở rộ vào đầu thập niên1980.
Tất nhiên không người nào, tổ chức nào có thể kêu gọi cộng đồng Người Việt Lưu Vong yểm trợ, đóng góp tiền bạc, tài năng bằng cách đi đây, đi đó đọc những bài diễn văn suông sáo, rỗng tuếch. Muốn thu hút sự ủng hộ thực sự của đồng bào bằng tài vật, hiện kim; những người đứng đầu các tổ chức này phải bằng mọi cách chứng minh bản thân họ, tổ chức của họ quả đang chống cộng thực sự tại quốc nội.
Ngược dòng thời gian, thực chứng cho thấy, tổ chức hải ngoại đầu tiên xâm nhập vào tận trong nước để hoạt động chống cộng có tên là “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Nam Việt Nam”. Đây là một tổ chức cách mạng Việt Nam Lưu Vong được thành lập tại Paris, thủ đô nước Pháp vào năm 1976.
Ngày 17/2/1976, tại khách sạn Méridien, Lê Quốc Túy và những người cầm đầu tổ chức này họp báo, cho ra mắt “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Nam Việt Nam”.
Lê Quốc Tuý và Mai văn Hạnh
Chủ tọa đoàn của cuộc họp báo này là ông Lê Quốc Túy – Chủ tịch, ông Lê Phước Sang – Phó chủ tịch, và ông Lại Hữu Tài làm Tổng thư ký. Tại đây, ông Túy giới thiệu “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Nam Việt Nam” ở Pháp là một bộ phận của “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam”. được thành lập từ tháng 10/1975 tại đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm các lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo và một số đảng phái chính trị, một số sĩ quan QLVNCH cũ do Hội trưởng Phật giáo Hòa Hảo Lương Trọng Tường làm “Chủ Tịch”.
Ông Lê Quốc Túy và các thành viên của tổ chức quyết định dùng cờ vàng ba sọc đỏ làm cờ của “Mặt Trận”.
Sau mấy năm hoạt động, củng cố mở rộng tổ chức đồng thời tuyển mộ huấn luyện đào tạo, thăm dò “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam” bắt đầu đưa cán bộ chính thức xâm nhập quốc nội vào cuối năm 1980.
Kể từ khi VNCH sụp đổ cho đến nay chỉ có tổ chức của ông Lê Quốc Túy là một tổ chức kháng cộng thực sự, có tầm vóc quy mô, kết hợp được trong ngoài; có đường hướng, kế sách hoạt động hẳn hòi và cán bộ được đào tạo, trang bị khá đầy đủ. Tuy nhiên vận nước điêu linh, trời phụ lòng người, dẫn đến những bất hạnh lâu dài cho dân tộc khi những toán chiến sĩ tiên phong xâm nhập đã lọt vào tay giặc.
lược trích tài liệu Việt Cộng (Bí Mật Của Một Chiến Dịch Phản Gián):
Ngày 11/1/1981, Công an tỉnh Tà Keo (Campuchia) cho biết: “Một tên Khmer Đỏ tên là Săm Sua đã ra đầu thú chính quyền cách mạng Campuchia tại Tà Keo. Y khai có tham gia dẫn đường cho 23 tên gián điệp biệt kích xâm nhập về Việt Nam”.
Ngày 12/1/1981, Công an Kiên Giang báo cáo về việc có một toán gián điệp biệt kích mang vũ khí, điện đài xâm nhập Việt Nam.
Tiếp đó, ngày 13/1, Công an Kiên Giang điện báo cáo lãnh đạo Bộ Nội vụ biết về việc có một toán gián điệp, biệt kích xâm nhập. Theo báo cáo, ngày 8/1/1981, bộ đội làm kinh tế ở Bình Sơn (Kiên Giang) bắn chết 1 tên gián điệp, biệt kích từ nước ngoài xâm nhập về Việt Nam. Công an Kiên Giang đã thu được 12 súng AK báng gấp, 7 quả lựu đạn, 2 tay quay máy phát điện dùng cho điện đài và một số quân trang, quân dụng. Đáng chú ý là có một số phù hiệu đề là “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam”… Có dấu hiệu đây là một tổ chức phản cách mạng đưa quân xâm nhập vào Việt Nam.Trong khi đang khẩn trương triển khai công tác truy bắt bọn gián điệp biệt kích xâm nhập, thì Công an Kiên Giang báo cáo là đã bắt giữ được 1 tên trong bọn chúng.
Ngày 18/1/1981, Trần Minh Hiếu sau khi được lệnh của toán trưởng cho phân tán, y về quê ở An Biên. Sau một thời gian biền biệt không được tin gì kể từ ngày Hiếu vượt biên, nay trở về Hiếu nói thật cho mẹ biết về việc tại sao y trở về Việt Nam. Ông cậu ruột của Hiếu làm việc ở Tỉnh đội Kiên Giang báo cho công an địa phương biết. Công an Kiên Giang ngay lập tức bắt giữ Trần Minh Hiếu và khai thác.
Trần Minh Hiếu đã khai nhận là một trong số 23 tên gián điệp biệt kích của tổ chức “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam” của Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh. Qua lời khai của Hiếu, ta biết chúng sẽ gặp nhau vào ngày 15 và 30 hàng tháng ở bến Ninh Kiều (Cần Thơ). Hiếu cũng khai nơi ẩn náu của tên toán trưởng Lê Hồng Dự. Công an Kiên Giang và Công an Hậu Giang đã tổ chức bắt giữ Lê Hồng Dự tại Cần Thơ. Qua lời khai của Lê Hồng Dự và Trần Minh Hiếu, bước đầu chúng ta đã xác định đây là một tổ chức phản cách mạng do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu có cơ sở hoạt động ở nước ngoài……
hết trích (Bí Mật Của Một Chiến Dịch Phản Gián)
Trong thời gian gần 7 năm trời vì bị phản gián nên những 16 chuyến gồm 32 tàu chở vũ khi và đưa người xâm nhập đều bị lọt vào tay cộng quân. Theo những tài liệu, cơ quan phản gián cộng sản tiết lộ sau này, chúng đã để cho những thủ lãnh như Lê Quốc Tuý, Mai văn Hạnh xâm nhập và trở ra an toàn để lực lượng yêu nước rơi sâu vào bẫy. Cuối cùng ngay những thành phần đầu não của tổ chức như Mai văn Hạnh, Trần văn Bá cũng lọt vào tay địch trong chuyến xâm nhập thứ 16.
Riêng ông Lê Quốc Tuý may mắn vì bệnh bất ngờ tác phát phải trở về Pháp điều trị nên thoát nạn, ông cùng bộ phận còn lại tiếp tục hoạt động, và tìm mọi cách đưa quân xâm nhập cho đến khi phát bạo bệnh lìa đời năm 1988. Sau khi ông Tuý qua đời, thành phần còn lại ở hải ngoại không còn ai đủ khả năng đảm nhiệm trọng trách nên Mặt Trận Thống Nhất Các Lưc Lượng Yêu Nước Giải PhóngViệt Nam đi vào bóng tối cũng như các tổ chức chống cộng trong nước hầu như tan biến vào lòng quốc dân không còn tăm tích…..
Năm 1984 Từ ngày 14 đến 18/12/1984, tại Sài gòn, Tòa án cộng sản đã tổ chức xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm “vụ án gián điệp Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh” và 21 bị cáo, trong đó có Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá (từ hải ngoại xâm nhập), Huỳnh Vĩnh Sanh, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch (đứng đầu các tổ chức quốc nội) và nhiều chiến sĩ yêu nước khác đã phải lãnh những bản án nặng nề. Một số khác được đưa ra làm nhân chứng. Phiên tòa đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế vì quy mô xâm nhập, khối lượng vũ khí, thuốc nổ, tiền gỉa cũng như những thành công trong việc kết hợp được lực lượng trong ngoài.
Không có tính chất quy mô lớn lao như Mặt Trận Thống Nhất Các Lưc Lượng Yêu Nước Giải PhóngViệt Nam, một tổ chức nhỏ khác có tên gọi là Liên Minh Quang Phục Việt Nam do Võ Đại Tôn đứng đầu đã lên đường qua ngã Thái – Hạ Lào (với mục đích xây dựng lại niềm tin bị băng hoại tại hải ngoại từ 1975-1980) để tìm kiếm một con đường xâm nhập, móc nối, thiết lập đường giây liên lạc với các tổ chức kháng Cộng quốc nội nhằm kết hợp đấu tranh cứu nước. Võ Đại Tôn cùng hai chiến hữu trẻ là Võ Hoài Khanh và Nguyễn Văn Lộc vào Thái thông qua tổ chức kháng chiến H’mong của Vàng Pao cho người dẫn đường vào Hạ Lào để xâm nhập Việt Nam nhưng không may Võ Đại Tôn và Nguyễn văn Lộc đã lọt vào tay đối phương tháng 10 -1981, Vũ Đình Khoa (Võ Hoài) hy sinh trong cuộc chạm súng. Tôn và Lộc bị đưa về Hà Nội giam ở Xà Lim Bộ Thanh Liệt (B14) năm 1982. Hơn ba năm sau, Nguyễn văn Lộc được thả về với gia đình ở Lạc Xuân, Đơn Dương, Tuyên Đức. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, Nguyễn văn Lộc lại bị đưa vào “tập trung cải tạo” ở trại Đại Bình.
Tại trại Đại Bình, Nguyễn văn Lộc đã thuật lại toàn bộ chuyến xâm nhập và chúng tôi (Kim Âu) nhận biết nguyên nhân thất bại chính vì Võ Đại Tôn đã phó thác sự thành bại của chuyến đi cho lực lượng H’mong dẫn qua hướng Nam Lào, bỏ qua con đường xâm nhập vào Tây Nguyên mà Nguyễn văn Lộc và Vũ đình Khoa đã thuần thục qua chuyến vượt biên bằng đường bộ đến Thái. Nguyễn văn Lộc cùng được thả về với Nguyễn Anh Hảo, Hà văn Sơn từ trại Đaị Bình vào cuối năm 1989.
Phần Võ Đại Tôn như mọi người đã rõ, ông đã chịu hơn 10 năm tù cấm cố và do sự can thiệp của chính phủ Úc, Tôn được trả tự do, trở về Úc ngày 11-12 năm 1991. Bút ký “Tắm máu đen” ra đời, người yêu nước nào đọc đoạn nhật ký ngay “Chương I” không khỏi chạnh lòng thương cảm (200 dollars chi dùng cho bốn năm tháng, Nguyễn Văn Lộc khi gặp tôi (Hà văn Sơn) ở trại Đại Bình cũng kể lại thảm trạng đúng như vậy). Mặc dù người đứng đầu tổ chức đã đốt lên ngọn đuốc hướng về quê hương nhưng Liên Minh Quang Phục Việt Nam cũng như Võ Đại Tôn vẫn không vượt qua ngưỡng lý thuyết, hoạt động vật vờ, quanh quẩn, mai một. Hiện tượng này cho thấy hành động hy sinh lẻ loi, đơn độc đầy tính “anh hùng lãng mạn” của nhóm ba người “Tôn- Khoa- Lộc” không nhen lên được ngọn lửa ái quốc đã tàn lụi trong lòng bọn vong quốc nô….
Sau “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải PhóngViệt Nam” và chuyến đi lẻ loi, thất bại từ ngoài biên giới của Võ Đại Tôn, một tổ chức ở Hoa Kỳ thoát thai từ hai nhóm có tên là Lực Lượng Quân Nhân Việt Nam ở Miền Đông và Miền Tây hình thành từ năm 1978 sau cải danh thành Lực Lượng Quân Dân Việt Nam (do xảo kế của Hoàng Cơ Minh lừa cả Nguyễn Chánh Thi và Phạm Văn Liễu nhằm khuynh loát tổ chức để loại bỏ Lục Phương Ninh, Đinh Thạch Bích.v.v). Vào ngày 1- 8 – 1981, Nguyễn Chánh Thi trong vai trò Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương Ủy Viên đã ký quyết định giải tán tổ chức này để sát nhập với Tổ Chức Phục Hưng, Tổ Chức Người Việt Tự Do thành Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam. Lúc đó, ông Nguyễn Chánh Thi đương nhiên trở thành Chủ Tịch của tổ chức mới. Ông Phạm Văn Liễu được cử làm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại và Hoàng Cơ Minh là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Quốc Nội. Sự xếp đặt này cũng dựa theo đẳng cấp, thứ bậc từ triều đình cũ vì khi Hoàng Cơ Minh vào học trường sĩ quan Hải Quân 1955, ông Liễu đã đeo lon thiếu tá được 3 năm đang là Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến. Ông Nguyễn Chánh Thi thì đang là Tư lệnh phó Liên đoàn Nhảy Dù.
Sau cuộc sát nhập, ngày 18 – 8 – 1981 Hoàng Cơ Minh đi Bangkok. (Nhóm 9 người- Hoàng Cơ Minh (tự Chính), Lê Hồng (tự Hiếu) Nguyễn Trọng Hùng (tự Huy), Trương Tấn Lạc (tự Lộc), Nguyễn Văn Thành (tự Thông), Phan Văn Phúc (tự Phút). Trần Thiện Khải (tự Khanh), Nguyễn Đức (tự Đài), Nguyễn Thành Tiễn (tự Tín) – sau bỏ về Hawaii đã từng bị mưu sát hụt. – có cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ tháp tùng). Nhóm này đã không vào được Thái Lan. Duy nhất chỉ một mình ông Duệ có quốc tịch Hoa Kỳ là được chấp thuận.
Mãi đến tháng 10 – 1981 qua Richard L.Armitage giới thiệu nhóm HCM mới được Tướng Sutsai nhận vào Thái dưới lớp vỏ làm công tác phỏng vấn, dò la tin tức về POW – MIA và cho trụ lại Ubon từ tháng 11 – 1981.
Tại tỉnh Ubon thuộc vùng Đông Bắc cách Bangkok khoảng 500km, Minh được cho mướn một khoảnh đất rừng gần làng Buntharik, Ubon Ratchathani, Thailand, còn khoảng 15 cây số tới biên giới Miên Thái để ở (báo VNTP số 233). Hoàng Cơ Minh và đồng đảng gọi nơi này là “Chiến Khu Quốc Nội”?!!
Đến lúc này âm mưu lừa bịp, buôn bán chiêu bài Kháng Chiến của Hoàng Cơ Minh bắt đầu lộ rõ. Nhóm Người Việt Tự Do sau khi hòa nhập vào với MT đã vận động tờ báo Nhật Seikai -Nippo đăng bản văn kêu gọi của Lực Lượng Kháng Chiến Việt Nam ngày 27 tháng 12 năm 1981 trong khi Hoàng Cơ Minh và nhóm tiên phong chỉ vừa mới vào được Thái có hai tháng.
Sau khi có bàn đạp và chỗ dựa, Hoàng Cơ Minh khởi diễn tấn tuồng bịp bợm một cách có hệ thống, bài bản.
Hắn nhờ ký giả Hoàng Xuân Yên bút danh Hoàng Xuyên viết bài tường thuật về thăm chiến khu trong nước (viết láo là về tận Đà Lạt) tham dự Ngày MT Công Bố Cương Lĩnh 8 – 3 – 1982, đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong tới 6 kỳ [ từ số 151 (ngày 1/5/1982 đến số 156 (ngày 16/7/1982)] tạo thành một cơn sốt Kháng Chiến trong tất cả các nơi có Người Việt Quốc Gia cư ngụ (gần đây Hoàng Xuyên sau nhiều năm im lặng đã lên tiếng vạch trần bộ mặt xảo quyệt, đểu cáng của Hoàng Cơ Minh qua trả lời phỏng vấn của Ký giả Tân Dân đăng trên Hải Ngoại Nhân Văn từ số 18 – 19 tháng 10 /1999).
Nguyễn Ngọc Ấn (lúc đó đang làm “cameraman” cho CBS) cũng được chi tiền để làm cuốn phim “Hoàng Cơ Minh Trail” và lừa cả cấp trên trong CBS để Dan Rather đưa lên phần tin. Tiếp theo, cuốn phim Vidéo Kháng Chiến Gỉa “Dĩa Giấy, Lính Lào, Rừng Thái Lan” được lưu hành như một bằng chứng về phong trào Kháng Chiến Quốc Nội để đoàn viên MT ở hải ngoại dựa vào đó, mặc sức lừa bịp đồng bào
Tiếp thêm xảo kế, tờ báo Kháng Chiến (Bịp) (ra số thứ nhất ngày 1- 4 – 1982) đã loan tải những bản tin thất thiệt đến độ hoang tưởng về những trận đánh ở trong nước. Những trò bịp bợm, xảo quyệt có hệ thống, lớp lang đó tất nhiên làm nức lòng đồng bào dẫn tới việc thành lập Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến ngày 3 – 4 – 1982 do ông Phạm Ngọc Lũy làm Chủ Tịch để quyên góp tài chánh cho Kháng Chiến?!!? Bịp.
Thời kỳ đó, hầu như tất cả đồng bào Việt Nam tại hải ngoại say cuồng hai chữ kháng chiến nên đã bị bịt mắt, rơi vào những vở tuồng được dàn dựng từ mưu mô quỷ quyệt của dòng họ Hoàng Cơ cùng đồng bọn và trở thành nạn nhân của việc buôn bán, bịp bợm Tinh Thần Ái Quốc nhân danh Kháng Chiến.
Lúc này Phạm Văn Liễu ở Hoa Kỳ đồng tình với những thủ đoạn xảo quyệt của Minh nên khi Hoàng Cơ Minh lẳng lặng cho Nguyễn Chánh Thi về vườn tiếm chức Chủ Tịch, Liễu cũng im lặng xuôi theo chiều gío. Cuối năm 1982, chính Phạm Văn Liễu mới phát giác ra Hoàng Cơ Định – Vụ trưởng Vụ Tài Chánh- không hề gởi tiền sang Thái. Cựu đại tá Phạm Văn Liễu khai trước tòa ngày 19 – 12 – 1994 : “Tôi thấy buồn vì tiền bạc thu được nhiều như thế, tôi tưởng Hoàng Cơ Định đã gởi về nhưng chẳng có chi nhiều ở căn cứ”.
Sau đó người ta mới biết được rằng Định có gởi về khoảng 160.000USD nhưng Hoàng Cơ Minh gởi trả lại, và bảo Hoàng Cơ Định giữ lại số tiền ấy ở Mỹ.
Richard L. Armitage
Sở dĩ Hoàng Cơ Minh không cần tiền vì Richard Armitage tức Trần Văn Phú đã trả lương cho công tác tải thuốc phiện từ Tam Giác Vàng rất sòng phẳng, đậm đà. Do đó Hoàng Cơ Minh thừa trả tiền thuê đất và nuôi những người chọn ra từ trại tỵ nạn bằng một khẩu phần bạc bẽo.
Tất nhiên tiền bạc của Mặt Trận trực tiếp kiếm chác được qua hành động xiết máu của đồng bào hay do Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến quyên góp đều ở lại Mỹ nằm trong “hầu bao” của gia đình Hoàng Cơ Minh và phe đảng. Tính sơ sơ…khoảng chừng từ 18 đến 22 triệu USD (tài liệu của Nguyên Vũ)
Để tăng thêm tốc độ làm tiền, Hoàng Cơ Minh từ Thái Lan trở lại Hoa Kỳ vào ngày 16 – 4 – 1983 để tham gia Đại Hội Chính Nghĩa từ ngày 28 – 29 /30 – 4 – 1983. Minh trơ tráo tuyên bố một cách ngu xuẩn là y đã thống hợp được 36 tổ chức qui tụ được hơn 10.000 Kháng Chiến Quân??!?!?
Chúng ta hãy đọc phần Nguyên Vũ tả lại
Trích
”…..trong cộng đồng Việt Nam tỵ nạn ở hải ngoại bùng lên một cơn sốt đó đây người ta hô hào, lôi kéo nhau đi ăn phở kháng chiến, mua gạo kháng chiến, xem văn nghệ kháng chiến, khiêu vũ kháng chiến. Không chỉ những người làm ra tiền mà ngay cả những cụ gìa ăn tiền SSI, những gia đình ăn Footstamp cũng chắt chiu dành dụm để gởi về cho MT diệt cộng. Có những ca sĩ hạng tư nhờ hát giúp kháng chiến được thổi lên hàng danh ca, có người què quặt tật nguyền bẩm sinh cũng mặc đồ rằn để biểu dương tinh thần kháng chiến. Thời gian đó người nào dám hoài nghi hay so sánh lối bắt chước để râu họ Hồ của Hoàng Cơ Minh, chê trách cái khăn rằn nông dân Nam Bộ giống như Phạm Hùng, Trần văn Trà là lập tức bị lên án phản quốc.Thập niên 1980 trong cộng đồng Việt Nam tỵ nạn ở hải ngoại bùng lên một cơn sốt
Muà Thu năm 1987, cơ quan truyền thông Việt Cộng loan tin đã giết chết Hoàng Cơ Minh, trong khi Minh và những người theo ông ta đang trên đường từ Thái băng qua Lào để vào Việt Nam. Việt cộng còn mở triển lãm hình ảnh ở Nhà Hát Lớn Sài Gòn (trụ sở quốc hội VNCH ) và đưa một số thành viên MT ra xét xử.
Một thời gian sau, nhóm Hoàng Cơ Định, Nguyễn Kim Hườn, Nguyễn Xuân Nghĩa ra tuyên cáo là Chủ tịch Hoàng Cơ Minh vẫn còn sống đang cầm đầu cuộc kháng chiến thần thánh ở trong nước. Nhưng dư luận đều biết Minh đã chết nhưng phe nhóm Định, Hườn, Nghĩa vẫn cố tình dối gạt vì một lý do nào đó.
Đến ngày 27/4/1989, báo Mercury News tại San Jose công bố một tài liệu về tổ chức Hoàng Cơ Minh trong đó cho biết tổ chức của Minh có cơ quan kinh tài là công ty Aureflam qủan lý một hệ thống 12 tiệm phở Hòa rải rác khắp nơi. Hàng năm thu được vào khoảng 2,900,000 Mỹ kim, Tác gỉa bài báo đầu tiên viết bằng Anh ngữ về tổ chức Hoàng Cơ Minh đã phản tỉnh:”Bọn chúng toàn là lũ bịp ( All of them are cheaters)”.
Dựa vào những món tiền khá lớn láo lừa được trước đó nhóm MT xử dụng đủ loại hình, phương tiện, thủ đoạn để bịt miệng và tiêu diệt đối thủ là những người cầm bút chân chính. Tại Holland, Europe, cựu bác sĩ dù Trần Đức Tường đã tổ chức hành hung ông Nguyện Gia Kiểng và sai người xuyên tạc sự thực. Tại Chicago, Hoa Kỳ người ta đồn rằng bác sĩ Trần Xuân Ninh đứng sau vụ đốt nhà của một người Việt tỵ nạn đã chống lại lệnh cấm du lịch Việt Nam của MT. Cuộc thảm sát hai vợ chồng ký gỉa Lê Triết của báo Văn Nghệ Tiền Phong ở vùng thủ đô Hoa Kỳ cũng được quy trách cho MT..ngoài ra còn nhiều trò khủng bố vu chụp, bôi bẩn, đốt nhà, đập cửa tiệm, hành hung, gọi điện thoại đe dọa, chửi bưới bằng ngôn ngữ hàng cá, hàng tôm của bầy tinh tinh MT có tính chất hệ thống tất cả những đối thủ của họ đã gặp phản ứng mạnh của cộng đồng.
Nhưng rồi một sự kiện hết sức nhục nhã cho MT đã xảy ra giữa mùa hè 1991, Cảnh sát liên bang FBI, sở thuế vụ IRS cùng Ban điều tra các băng đảng tội ác vùng San Francisco đã kết thúc cuộc điều tra sơ khởi về Mặt Trận Hòang Cơ Minh theo lời công tố viên, được miễn tố vì luật pháp Hoa Kỳ không xét xử người đã chết Hòang Cơ Minh. Năm cán bộ nòng cốt : Hòang Cơ Định, Nguyễn Kim Hường, Nguyện bị đưa ra tòa vì tội gian lận thuế. Hai nhân vật khác là Nguyễn Xuân Nghĩa , Lê Thiệp cũng bị FBI điều tra. Nghĩa sau đó bị loại ra khỏi tổ chức vì đã hứa hợp tác với FBI để được gỉam khinh các tội trạng.
Vụ án trốn thuế đó lẽ ra chẳng mấy ai quan tâm vì bộ mặt bịp bợm, láo lừa, lưu manh hạ cấp của những đoàn viên cấp dưới cho tới lãnh đạo đã không có tấm mo nào che được. Không biết có phải vì quen thói ăn mày xu rơi, xu vãi cũng nhặt tuốt nhóm đầu sỏ lại bày trò quyên góp Quỹ Công Lý để vừa rửa mặt vừa kiếm tiền nhưng nhiều người và báo chí đã đòi hỏi Hoàng Cơ Minh phải xuất hiện, công khai tường trình việc xử dụng số tiền quyên góp mua súng đạn kháng chiến..”
hết trích
Thực tế ngày nay cho thấy tất cả những câu chuyện về kháng chiến , chiến khu quốc nội v.v. của MT Hoàng Cơ Minh toàn là trò bịp bợm được dàn dựng.
Nhưng Hoàng Cơ Minh -tên đại bịp- đã vong mạng, thảm tử vì hậu qủa của trò Kháng Chiến Bịp từ bao giờ còn đâu mà xuất hiện.. Khốn nạn, trơ tráo và đốn mạt nhất là đám gian nhân, bịp đảng vẫn chối bai bải về việc Hoàng Cơ Minh thảm tử. Chúng trắng trợn bày trò cho xác chết, hồn ma Hoàng Cơ Minh “sống mãi trong sự nghiệp bịp bợm” bằng cách chúc tết đồng bào hải ngoại hàng năm để tiếp tục quyên góp, trấn lột đồng bào.
Hoàng Cơ Định
Chúng ta hãy đọc đoạn văn Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu khinh bỉ tả lại thái độ và ngôn từ của Hoàng Cơ Định trong phiên tòa.
trích
“ Bị dồn hỏi về đài phát thanh kháng chiến, Hoàng Cơ Định, sau khi đã cáo buộc ông Tâm phải chịu “trách nhiệm tinh thần” về sự tiết lộ bí mật… quân sự của Mặt Trận, nói đài trên đặt tại đất Lào. Ông Tâm cười, dư biết Hoàng Cơ Định lại thêm một lần bịa đặt!
Ngay sau đó, Luật sư Tâm xin trình tòa một bằng chứng {Exhibit} mới là một xấp hình, trong đó có một tấm hình màu, khổ 8×11, chụp hai ngày sau khi Hoàng Cơ Minh chết ở Hạ Lào hơn 7 năm trước. Rồi trao cho Hoàng Cơ Định sấp hình trên, Luật sư Tâm từ tốn yêu cầu lật Hoàng Cơ Định lật tới hình thi hài Hoàng Cơ Minh, cao giọng hỏi:
– Ông Hoàng{Cơ Định}. Ông có nhận ra ai trong hình đó không?
Hòang Cơ Định chỉ liếc mắt qua tấm hình, giọng thản nhiên:- Không!
Tôi lặng người nhìn khuôn mặt hồng hào, béo tốt của Hoàng Cơ Định, khẽ lắc đầu. Gờn gợn ở cuống họng cảm gíac buồn nôn quen thuộc. Chưa bao giờ tôi phải đối diện một cảnh tượng bất nhân, bất nghĩa như lúc này. Chưa bao giờ tôi thấy một người có học vấn hèn mạt hơn lúc này. Chỉ vì sự an toàn bản thân và duy trì cơ nghiệp bán buôn kháng chiến, một người tự xưng con giòng cháu giống, học hành đỗ đạt tới cấp “Tiến sĩ’ Pháp, nỡ đang tâm nói không nhận ra tấm hình thi hài anh ruột mình…. Nhưng tiếng “Không” lạnh lẽo của Hoàng Cơ Định bộc lộ rõ bản chất của một đầu lĩnh Mặt Trận “tội ác có tổ chức” hơn một người có ăn học, gia giáo, nói chi một nhà “lãnh đạo” kháng chiến để khôi phục đất nước.”
Bị hỏi dồn Định nói :”Tôi tin rằng anh tôi vẫn còn sống!”
Nhưng những câu dồn dập kế tiếp khiến Hoàng Cơ Định phải thú nhận hơn 7 năm qua y không hề liên lạc được với Hoàng Cơ Minh dù thư từ, hình ảnh hay qua các chiến hữu. Khi bị hỏi sang vấn đề tài chánh, Hoàng Cơ Định chối biến là không hề giữ sổ sách về việc thu gom tiền bạc của đồng bào, chỉ báo cáo miệng với đại tá Liễu 14 lần.”
hết trích
Phải đến 14 năm sau, chuẩn bị cho cái đảng bịp gọi là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng ra đời bọn đầu lĩnh MT Phở Bò mới cho phép Hoàng Cơ Minh được chết.
Thực tế ngày nay cho thấy tất cả câu chuyện về MT Hoàng Cơ Minh toàn là bịp bợm. Chiến Khu Quôc Nội chỉ là một mảnh đất thuê của lãnh chúa ở Thái Lan. Căn cứ quốc nội là mấy căn lều lán, kháng chiến quân là những người được chiêu dụ từ trại tỵ nạn, hoạt động kháng chiến là đi tải thuốc phiện cho Richard Armitage. Hơn năm năm ở Thái Lan, Hoàng cơ Minh không hề có một kế họach hoạt động nào mở đường trở về quốc nội. Toàn bộ thầy trò Hoàng Cơ Minh chỉ làm phu khuân vác kiếm ăn và bịp bợm đồng bào hải ngoại. Khi bị chúa đất đuổi trại, tống xuất khỏi Thái Lan, Hoàng Cơ Minh không biết đi đâu vì chẳng có một trạm nào trên đất Miên, Lào để trú chân. Điều đó cho thấy tên đại bịp Hoàng Cơ Minh chỉ diễn trò bịp bợm đế kiếm chác chứ KHÔNG HỀ CÓ MỘT KẾ HOẠCH NÀO TRỞ VỀ QUỐC NỘI.
Năm năm ở Thái, một thời gian quá dài để mở nhiều, chứ không phải một con đường gồm nhiều nhánh, nhiều trạm giao liên canh tác, chăn nuôi, tự túc, tự cấp từ Thái như vết dầu loang dần, xuyên qua đất Miên về tới Việt Nam. Nếu có hoạt động kháng chiến thật sự thì tên Hoàng Cơ Minh không thể thảm tử vì Việt Cộng không lấy đâu ra đủ quân để kiểm soát hết Nam Lào, Tam Biên khi mỗi trạm được tổ chức thành một an toàn khu kháng chiến, thành những trạm tiền sát. Chiến tranh nổi dậy, chiến tranh cách mạng là một nghệ thuật quân sự chủ yếu “dĩ chiến, dưỡng chiến”, lấy ít đánh đông, vũ trang tuyên truyền, khai thác bất công xã hội, quấy rối và phá nát hạ tầng cơ sở của Việt Cộng. Từng bước xây dựng căn cứ địa, phát triển và củng cố lực lượng, phát triển chiến tranh du kích từng bước tiến lên vận động chiến và tổng nổi dậy.
Dù băng đảng Kháng Chiến Ma có tiến hành nhiều trò hỏa mù để cố gắng vẽ lại bộ mặt của tên đại bịp thành một nhà ái quốc. Chúng đã thuê mướn những tay bồi bút viết hồi ký bịp “Hành Trình Người Đi Cứu Nước” như Phạm Hoàng Tùng, đưa Đỗ Thông Minh đi ra mắt sách cho một tác gỉa không có thực, đưa người của Mặt Trận đến tranh cãi với tác gỉa MA trong những buổi ra mắt sách..v.v. Tất cả những trò dàn dựng đấy chỉ nhằm mục đích tạo bằng chứng để biến những cuộc Đông Tiến chỉ có trong trí tưởng tượng thành sự thực. Bọn lưu manh đầu lĩnh Mặt Trận Việt Tân có cơ xảo, dàn dựng cho Phạm Hoàng Tùng tố cáo, lôi kéo dư luận chú tâm vào những tội nhỏ (sát nhân, chuyên quyền) để quên đi những tội lớn (buôn bán tinh thần ái quốc, dựng chiêu bài Kháng Chiến Bịp). Nhưng mưu đồ và hành vi của chúng không thể qua mắt những người quốc gia chân chính từng nghiên cứu, học tập cặn kẽ về chiến tranh cách mạng (nổi dậy) như chúng tôi. Vì lẽ bọn ma đầu này không thấu triệt những nguyên tắc xây dựng căn cứ địa cách mạng và hoạt động du kích chiến.
Khun Sa
Hoàng Cơ Minh chỉ chờ Richard L. Armitage mãn nhiệm, rút khỏi Thái Lan thì Minh cũng chuồn qua Nhật ẩn thân, giấu mặt sống một đời phú quý ô trọc trên những đồng tiền lừa bịp được của đồng bào tỵ nạn. Nhưng“Thiên bất dung gian”, việc buôn “héroin” để gây quỹ đen của Richard Armitage bị những nhóm POW- MIA do tỷ phú Ross Perot tài trợ phát giác nên thượng cấp ở Langley phải điều Richard L. Armitage đi công tác ở nhiệm sở khác.
Mời quý vị đọc qua trích đoạn tài liệu mô tả hoạt động của Richard L. Armitage dưới đây:
Trích
“….In 1975, Armitage went to Washington DC as a Defense Department “consultant” and wasposted to Tehran until the end of 1976. No information from “official” sources describes the purpose of Armitage’s “posting” in Tehran, but unofficial sources name Armitage as working in Tehran to oversee “the transfer of heroin profits from Indonesia to Shackley’s account in Tehran . . .” As soon as Armitage finished his DOD business in Iran, he moved to Bangkok and began a private sector “import/export business”, although others have linked Armitage’s work in Thailand to the Pentagon and to the Nugan Hand Bank. Many of the same players in the Nugan Hand Bank scandal would resurface again, during the Iran-Contra scandal, including Richard Armitage.
In the early 1980s, Armitage began working for President-elect Reagan as a foreign policy advisor and was appointed as the Deputy Assistant Secretary of Defense for East Asia and Pacific Affairs, a position he held until 1983 when he became the Assistant Secretary of Defense for International Security Policy. One of Armitage’s duties at the DOD was to oversee the recovery of MIAs and POWs from Vietnam, according to testimony by former Special Forces officer James “Bo” Gritz before the Senate Select Committee on POW/MIA Affairs. During his efforts to locate any potential MIAs in Southeast Asia, Gritz eventually came to believe that Armitage used his position at the Pentagon to block private-sector efforts to bring missing American servicemen home. More importantly, Gritz was given information by Khun Sa, the “King of the Golden Triangle”, which fingered Armitage as having been the individual “who handled the [opium] money with the banks in Australia“
tạm dịch
Khun Sa, “vua của Tam giác vàng”
“Trong những năm 1980, Richard L. Armitage đã bắt đầu làm việc cho Tổng thống Reagan như là một cố vấn chính sách ngoại giao và được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Vụ Đông Á và Thái Bình Dương, một vị trí ông giữ cho đến năm 1983 khi ông trở thành trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về Chính sách an ninh quốc tế. Một trong những nhiệm vụ Richard L. Armitage tại Bộ Quốc phòng là giám sát việc thu hồi hài cốt người Mỹ mất tích và tù binh chiến tranh ở Việt Nam, theo lời khai của cựu sĩ quan Lực lượng đặc biệt James “Bo” Gritz trước Ủy ban Thượng viện về vấn đề POW/MIA. Trong những nỗ lực của mình để xác định vị trí của người Mỹ mất tích ở Đông Nam Á, Gritz cuối cùng đã đề quyết rằng Richard L. Armitage sử dụng vị trí của mình ở Lầu Năm Góc để chặn các nỗ lực trong phạm vi tư nhân nhằm tìm và đưa người Mỹ mất tích về nhà. Quan trọng hơn, Gritz đã đưa ra thông tin của Khun Sa, là “vua của Tam giác vàng”, chỉ rõ Richard L. Armitage trong tư cách cá nhân chính là “người xử lý tiền [thuốc phiện] với các ngân hàng tại Úc”
hết trích
Cựu sĩ quan Lực lượng đặc biệt James “Bo” Gritz
Sự thuyên chuyển Richard L. Armitage khỏi Thái Lan một cách đột ngột khiến Hoàng Cơ Minh nghẽn lối không còn đường ra khỏi đất Thái mà phải lãnh bản án tử hình vì nguyên tắc bạc bẽo của hoạt động tình báo là “sát nhân diệt khẩu”, xóa bỏ tất cả mọi bằng chứng, nhân sự liên quan để tránh hậu họa. Tình báo Thái Lan lãnh trách nhiệm hạ nhát chổi cuối cùng quyét Hoàng Cơ Minh và thuộc hạ sang bên kia biên giới để quân đội Việt Cộng truy sát đồng nghĩa với việc đưa Hoàng Cơ Minh sang bên kia thế giới.
Suốt quãng thời gian hai mươi hai năm diễn trò Kháng Chiến Bịp,dòng họ Hoàng Cơ và đồng đảng trong Mặt Trận Phở Bò đã huỷ hoại tinh thần ái quốc đến tận cùng; chúng biến những hành động chống cộng thành những vở tuồng để quyên tiền, góp bạc, xiết máu đồng bào hải ngoại. Tội ác phá hoại Chính Nghĩa Quốc Gia là đại tội “trời không dung, đất không tha, người người phỉ nhổ”. Mấy chục năm nay, người quốc gia ở hải ngoại chưa thôi nguyền rủa giòng họ Hoàng Cơ. Nhắc đến Mặt Trận, nói tới Việt Tân, người lương thiện đều thấy tanh hôi, lợm giọng.
35 năm qua, Người Việt Hải Ngoại chỉ có một tổ chức kháng chiến thực thụ độc nhất đó là “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam” của Lê Quốc Tuý, Mai văn Hạnh và Trần văn Bá. Chuyến đi của Võ đại Tôn, Liên Minh Quang Phục chỉ là một chuyến đi xây dựng niềm tin. Còn lại tổ chức Kháng Chiến Bịp, đảng Việt Tân của giòng họ Hoàng Cơ chỉ là một thứ cường toan huỷ hoại tinh thần ái quốc và ước mơ quang phục của Người Việt Quốc Gia Lưu Vong.
Trong thời kỳ ở Bultharít, Hoàng Cơ Minh nhiều lần thao thao bất tuyệt về các “chiến khu quốc nội”, các “đường dây xâm nhập”, và các “trạm dưỡng quân” đã được thiết lập từ nhiều năm trước?!. Thực tế cho thấy, Hoàng Cơ Minh chỉ giỏi khoác lác, lừa dối những người có thành tâm với sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách cai trị của bạo quyền cộng sản.
Chẳng hiểu Tú Gàn được trả bao nhiêu tiền để bất cố liêm sỉ, bẻ cong ngòi bút tô điểm cho bọn gian nhân hiệp đảng. Tội nghiệp thay! Kiến thức về quân sự, khả năng suy luận của Tú Gàn chỉ là con số không to tướng nên không phân biệt được hành quân chiến đấu, tấn công và việc xâm nhập xây dựng căn cứ, tổ chức phong trào du kích chiến khác nhau một trời một vực. Đồng thời Tú Gàn không đủ nhận thức để thấy rằng muốn xâm nhập Việt Nam điều kiện chủ yếu trước tiên là phải thiết lập một con đường tiến thoái an toàn với những trạm trại không khác gì đường mòn Hồ Chí Minh. Viết như Tú Gàn tốt nhất là không nên viết.
Kim Âu
28-01-2011